Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 400/2025/DS-PT
Ngày 18-12-2025
V/v Kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ứng.
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Nguyễn Thế Hạnh.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Huê, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 292/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Kiện đòi tài sản”,

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS-ST ngày 30-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng bị kháng cáo,

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 535/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 376/2025/QĐPT-DS ngày 21 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến D; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thanh G; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường N, tỉnh Lâm Đồng – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn:
    1. Ông Lê Đức T; địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
    2. Ông Nguyễn Văn D1; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
  • - Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Tiến D.
  • - Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Tiến D trình bày: Ngày 10/5/2022, ông Nguyễn Tiến D có ký hợp đồng đặt cọc với ông Lê Đức T, trong đó thỏa thuận chuyển nhượng các thửa đất số 12, 13; tờ bản đồ số 21 với giá 3.120.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm hai mươi triệu đồng). Ông D đã đặt cọc trước số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Mặc dù thửa đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông T1, nhưng ông T và ông D1 vẫn khẳng định đất là của họ, không tranh chấp, và cam kết sẽ hoàn tất thủ tục tách thửa đất để có thể công chứng sang nhượng vào ngày 30/6/2022. Số tiền còn lại sẽ thanh toán khi thực hiện thủ tục công chứng chuyển nhượng. Tuy nhiên, đến ngày 30/6/2022, ông T và ông D1 không thực hiện việc chuyển nhượng như cam kết, lý do đưa ra là thửa đất chưa đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông D đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông T và ông D1 trả lại tiền cọc. Ngày 04/4/2023, ông Nguyễn Văn D1 có viết Bản cam kết sẽ hoàn trả tiền vào ngày 05/5/2023. Ngày 20/5/2023, ông D1 lập bản cam kết với ông D hẹn trả ngày 04/6/2023. Sau đó ngày 16/6/2023 ông D1 đã trả trước 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Tuy nhiên, từ đó đến nay, cả hai ông đều không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Do đó, ông D làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc ký ngày 10/5/2022 giữa ông D và ông Lê Đức T; buộc ông Lê Đức T và ông Nguyễn Văn D1 trả lại số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) và tiền lãi theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Lê Đức T trình bày: Ông và ông Nguyễn Văn D1, ông D (không nhớ họ) cùng sở hữu chung 1 thửa đất có diện tích khoảng 9.000m² tại tổ T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Ngày 16/5/2022, qua môi giới là anh Nguyễn Hữu T2 thì các ông có bán cho ông Nguyễn Tiến D một phần của thửa đất này, diện tích khoảng 1.092m² với giá 3.120.000.000₫ (ba tỷ một trăm hai mươi triệu), đặt cọc 200.000.000đ; hẹn ngày 30/6/2022 sẽ hoàn thành việc tách thửa phần diện tích khoảng 1.092m² và trả hết số tiền còn lại để làm thủ tục chuyển nhượng. Cùng ngày 16/5/2022, ông D trả tiền mặt đặt cọc mua diện tích đất trên nhưng ông T không phải người nhận tiền cọc mà là bà T3 – Kế toán công ty Q do ông Nguyễn Văn D1 làm Giám đốc, ông T chỉ là người đứng ra ký giấy đặt cọc, còn người nhận cọc là bà T3, sau bà T3 nộp lại cho ông D1.

Sau đó, do thời gian làm thủ tục tách thửa không đúng với thời gian hẹn là vào ngày 30/6/2022, các ông chưa tách được thửa đất và cũng chưa làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến khi tách được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đã quá thời hạn hẹn trong giấy đặt cọc và một phần cũng do giá đất xuống nhanh nên ông D không tiếp tục mua lô đất này nữa. Ông T cùng ông D1, ông D đã lập biên bản làm việc nội dung ông D1 có trách nhiệm trả lại số tiền 200.000.000₫ mà ông D đã đặt cọc. Sau đó, ông D1 đã trả được 60.000.000đ, còn lại 140.000.000đ. Nay ông D khởi kiện, đề nghị ông D1 tiếp tục có trách nhiệm trả số tiền còn lại, ông T không liên quan vì không được cầm số tiền đặt cọc này.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D1 mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng không có mặt tại Tòa án để làm việc và cũng không trình bày ý kiến gì.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Lâm Đồng đã quyết định: Căn cứ các điều 26, 35, 39, 70, 72, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng các Điều 117, 274, 275, 280, 328, 370, 422 và 423, 427, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,, tuyên xử:

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Lê Đức T phải có trách nhiệm cùng ông Nguyễn Văn D1 trả 140.000.000đ và tiền lãi.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến D. Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 16/5/2022 được xác lập giữa ông Nguyễn Tiến D và ông Lê Đức T về việc chuyển nhượng thửa đất có diện tích 1.092m² tại tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng).
  3. Buộc ông Nguyễn Văn D1 phải trả cho ông Nguyễn Tiến D số tiền 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng) và tiền lãi 29.000.000₫ (hai mươi chín triệu đồng).

Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 07-8-2025, nguyên đơn ông Nguyễn Tiến D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Lê Đức T phải liên đới cùng ông Nguyễn Văn D1 hoàn trả số tiền cọc còn lại là 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng) và toàn bộ phần lãi chậm trả 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng) cho ông Nguyễn Tiến D.

Ngày 11/8/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng ban hành quyết định kháng nghị số: 69/QĐKNPT – VKS – DS theo hướng sửa bản án dân sự sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên quyết định kháng nghị. Các đương sự đều vắng mặt nên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS 2015: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND khu vực 6 và kháng cáo của nguyên đơn. Sửa một phần Bản án Dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Đức T và ông Nguyễn Văn D1 phải trả cho nguyên đơn số tiền 140.000.000đ và tiền lãi theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng ban hành trong thời hạn luật định.

[1.2]. Về việc các đương sự vắng mặt: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn D1, ông Lê Đức T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông D1 và ông T.

[1.3]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Việc thỏa thuận mua bán đất giữa ông D với ông T được xác lập tại Hợp đồng đặt cọc ngày 16/5/2022, ông D đặt cọc cho ông T số tiền 200.000.000 đồng, đến hạn tiến tới ký kết hợp đồng chuyển nhượng do không thể tách thửa để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể thực hiện được. Đến ngày 04/4/2023 giữa các bên đã làm Giấy cam kết (có chữ ký của ông D1, ông T và ông D), theo thỏa thuận ông D1 đồng ý trả lại cho ông D số tiền là 200.000.000 đồng, thời hạn trả tiền đến hết ngày 05/5/2023, tuy nhiên đến hạn ông D1 mới chỉ trả được 60.000.000 đồng, còn 140.000.000 đồng không trả như thỏa thuận nên ông D đã khởi kiện yêu cầu ông D1, ông T trả lại số tiền 140.000.000 đồng. Xét thấy giữa ông D với ông D1 và ông T đã làm Giấy cam kết, mặc dù không thỏa thuận cụ thể về việc chấm dứt hợp đồng đặt cọc, nhưng nội dung cam kết ông D1 và ông T sẽ trả lại tiền cho ông D thể hiện giao dịch đặt cọc đã chấm dứt theo sự thỏa thuận của các bên quy định khoản 2 Điều 422 Bộ luật Dân sự. Do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này xác định là “Kiện đòi tài sản” được quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc là chưa đúng quy định pháp luật. Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại quan hệ pháp luật cho đúng theo quy định của pháp luật.

[2]. Xét nội dung giải quyết vụ án, quyết định kháng nghị và yêu cầu kháng cáo:

[2.1]. Như đã phân tích tại mục [1.2] Hợp đồng đặt cọc ngày 10/5/2022 giữa các bên đã chấm dứt kể từ thời điểm các bên xác lập bản cam kết ngày 04/4/2023 với nội dung ông D1 sẽ trả lại cho ông D số tiền 200.000.000 đồng. Giấy xác nhận có chữ ký của cả ông D1, ông T và ông D. Do vậy, việc cấp sơ thẩm áp dụng các Điều 117, 274, 275, 280, 328, 370, 422 và 423, 427, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 tuyên hủy hợp đồng đặt cọc và giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng là có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật.

[2.2]. Đối với yêu cầu buộc ông Lê Đức T và ông Nguyễn Văn D1 trả lại số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Tại bản cam kết ngày 04/4/2023 có chữ ký của cả ông D1, ông T và ông D thể hiện nội dung như sau: “Tôi (Nguyễn Văn D1) cam kết ngày 05/5/2023 sẽ trả lại số tiền 200.000.000 đồng cho anh Nguyễn Tiến D. Số tiền trên đặt cọc lô đất tại Thôn T, phường Q (ông Lê Đức T đứng ra nhận cọc)”. Như vậy nội dung các bên thỏa thuận chỉ là cam kết sẽ trả lại tiền cho ông D, ngoài ra không thỏa thuận cụ thể việc chuyển giao nghĩa vụ ông D1 sẽ thay ông T đứng ra trả tiền cho ông D. Mặt khác, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, ông T là người đứng ra nhận cọc, mặc dù đã giao lại số tiền nhận cọc cho ông D1, và ông D1 thừa nhận đã cầm số tiền trên. Tuy nhiên, giữa ông D1 và ông T có quan hệ hợp tác đầu tư đất chung và cùng nhau hưởng lợi nhuận, số tiền cọc ông T đưa cho ông D1 cũng sử dụng vào việc thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến tách thửa. Do đó, căn cứ Điều 288 Bộ luật Dân sự có cơ sở buộc ông D1 và ông T phải liên đới chịu trách nhiệm hoàn trả số tiền 140.000.000 đồng cho ông D. Việc cấp sơ thẩm nhận định có việc chuyển giao nghĩa vụ và chỉ buộc ông D1 trả số tiền 140.000.000 đồng là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

[2.3]. Đối với yêu cầu buộc ông Lê Đức T và ông Nguyễn Văn D1 phải chịu phần lãi chậm trả 29.000.000 đồng. Căn cứ vào bản cam kết ngày 04/4/2023 các bên thỏa thuận, phía bị đơn sẽ trả lại số tiền 200.000.000 đồng cho nguyên đơn vào ngày 05/5/2023, sau đó gia hạn đến ngày 04/6/2023. Tuy nhiên đến hạn trả tiền phía bị đơn vẫn không thực hiện việc trả nợ là vi phạm nghĩa vụ cam kết. Ngày 17/6/2023 bị đơn chuyển trả được 60.000 đồng, số tiền còn nợ lại 140.000.000 đồng nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 17/6/2023 đến ngày xét xử với lãi suất 10%/năm với số tiền lãi chậm trả 29.000.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự. Như đã phân tích tại mục [2.2] thì ông D1 và ông T phải liên đới chịu trách nhiệm hoàn trả số tiền 140.000.000 đồng cho ông D nên phần tiền lãi chậm trả ông D1 và ông T cũng có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm.

[2.4]. Từ những vấn đề nhận định, phân tích nêu trên xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng, một phần kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D.

[2.5]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng, một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Tiến D, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS - ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Lâm Đồng.

Căn cứ Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng Điều 166, 280, 357 và 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến D về việc Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 16/5/2022 được xác lập giữa ông Nguyễn Tiến D và ông Lê Đức T về việc chuyển nhượng thửa đất có diện tích 1.092m² tại tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng).
  2. Buộc ông Lê Đức T và ông Nguyễn Văn D1 phải liên đới trả cho ông Nguyễn Tiến D tổng số tiền 169.000.000₫ (một trăm sáu mươi chín triệu đồng), trong đó tiền gốc là 140.000.000₫ (một trăm bốn mươi triệu đồng); tiền lãi chậm trả là 29.000.000đ (hai mươi chín triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí:

2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Tiến D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Nguyễn Tiến D được nhận lại 3.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007423 ngày 30/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (cũ) nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Lâm Đồng.

Ông Nguyễn Văn D1 và ông Lê Đức T phải chịu 8.458.000 đồng (tám triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Tiến D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; trả lại cho ông Nguyễn Tiến D số tiền 300.000.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002420 ngày 18 tháng 8 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND khu vực 6 – Lâm Đồng;
  • - VKSND khu vực 6 – Lâm Đồng;
  • - THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: TDS, THCTP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Anh Ứng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 400/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 400/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng, một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger