|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 40/2025/HS-ST
Ngày: 29/9/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.
Các Hội thẩm: 1. Ông Lê Văn Phước.
2. Ông Nguyễn Bá Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phước V; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/7/1989; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Số A Khóm K, Phường S, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Cha: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1962 (Sống); Mẹ: Tống Thị D1, sinh năm: 1965 (Chết); A, chị, em ruột: Duy nhất có một mình bị cáo; Vợ: Đặng Thị Hồng L, sinh năm: 1986; Con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện tại đang bị tạm giam tại Trại giam S, Công an tỉnh Đ.
Người bị hại: Nguyễn Tấn M, sinh năm 1989; Cư trú: số A, ấp L, xã H, tỉnh Đồng Tháp; (có mặt)
Người làm chứng: Lê Tuyết H sinh năm 1968; Cứ trú: số I, khóm K, phường S, tỉnh Đồng Tháp; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết từ trước, nên vào khoảng 09 giờ ngày 06/12/2024 bị cáo Nguyễn Phước V sử dụng điện thoại di động số 0901.705.xxx gọi điện vào số điện thoại 0944.097.xxx của Nguyễn Tấn M để rủ M đi uống nước M đồng ý. Khoảng 11 giờ cùng ngày, M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66L1-739.73 do M đứng tên chủ sở hữu, đến quán "Lối Xưa", tại địa chỉ số H, đường N, khóm T, phường S, tỉnh Đồng Tháp để gặp và uống nước cùng với V.
Trong quá trình uống nước, V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của M để bán lấy tiền trả nợ, nên đến khoảng 12 giờ cùng ngày, V hỏi mượn xe mô tô của M để đi công việc cá nhân ở phường C, tỉnh Đồng Tháp, nhưng M yêu cầu V cho biết nhà của V thì M sẽ đồng ý cho V mượn xe. Sau đó, V điều khiển xe mô tô của M, chở M đến trước nhà hộ số H, khóm K, phường S, tỉnh Đồng Tháp do bà bà Lê Tuyết H làm chủ sở hữu đang khóa cửa và chỉ tay vào nhà nói đây là nhà của V và kêu M xuống xe, ngồi trên ghế đá trước nhà đợi, còn V điều khiển xe mô tô chạy về hướng phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Sau khi có được xe mô tô của M thì V đã điều khiển xe mô tô chạy đến phường C, tỉnh Đồng Tháp vào quán cà phê "Lexy" trên đường T bán cho một người tên T (không rõ họ tên và địa chỉ) với giá 8.000.000 đồng, rồi V đón xe khách đi đến thành phố Hồ Chí Minh, số tiền bán xe mô tô, V đã trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS, ngày 15/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66L1-739.73, nhãn hiệu HONDA, loại xe WARE RSX F1, màu sơm sám đen, số máy: JA52E0322569, số khung: RLHJA3931MY120611 trị giá 12.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKS-KV8 ngày 15/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp để xét xử bị cáo Nguyễn Phước V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử áp khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước V mức hình phạt từ 09 tháng đến 12 tháng tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự;
Buộc các bị cáo Nguyễn Phước V bồi thường cho anh Nguyễn Tấn M số tiền là 19.000.000 đồng.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Phước V xin lỗi người bị hại, bị cáo ăn năn hối hận, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và khắc phục hậu quả cho người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Phước V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án. Qua đó xác định: Bị cáo Nguyễn Phước V có mối quan hệ quen biết từ trước với bị hại, nên vào ngày 06/12/2024, tại địa bàn phường S, tỉnh Đồng Tháp bị cáo Nguyễn Phước V đã nói dối để hỏi mượn xe mô tô biển số 66L1-739.73 của anh Nguyễn Tấn M sau đó mang bán lấy tiền trả nợ và sử dụng cá nhân. Hành vi của bị cáo Nguyễn Phước V là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phương.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Phước V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...;”
[3] Bị cáo Nguyễn Phước V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi phạm tội bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc nói dối người bị hại để lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân, muốn có tiền để tiêu xài, sử dụng cho cá nhân, không cần phải lao động vất vã, bị cáo cố ý thực hiện hành vi nói dối để chiếm đoạt tài sản hợp pháp của anh M một cách trái pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp và phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đồng ý bồi thường nhưng chưa thực hiện bồi thường cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện giáo dục, cải tạo thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phước V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Phước V không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, gia đình bị cáo còn 02 con nhỏ nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người bị hại anh M yêu cầu bị cáo Nguyễn Phước V phải bồi thường số tiền 19.000.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Phước V đồng ý theo yêu cầu bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và bị hại không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Khoản 1 Điều 174; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/8/2025.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Phước V bồi thường cho anh Nguyễn Tấn M số tiền là 19.000.000 đồng.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bị hại mà bị cáo chưa thi hành số tiền bồi thường trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tại thời điểm thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Không.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Phước V phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm;
Buộc bị cáo Nguyễn Phước V nộp 950.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a,7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nhân |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
