Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-PT

Ngày 29-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Quân

Các Thẩm phán: Ông Trương Quyết Thắng và bà Hoàng Hải Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà: Lê Thu Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 34/2025/TLPT-HS ngày 31/7/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn L, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai).

* Bị cáo bị kháng nghị:

Họ và tên: Nguyễn Văn L (tên gọi khác: Không); sinh ngày 10 tháng 4 năm 1974. Tại huyện L, tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái (Nay là thôn A, xã Đ, tỉnh Lào Cai); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); có vợ là Hoàng Thị Á (đã ly hôn) và 02 người con (lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1995 bị Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số: 13/PTHS ngày 15/8/1995 (Bị cáo đã chấp hành xong và được xoá án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/8/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã C, tỉnh Lào Cai). Vắng mặt;
  2. Chị Phạm Thị L1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã C, tỉnh Lào Cai). Vắng mặt;
  3. Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã C, tỉnh Lào Cai). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
  4. Anh Lý Văn T2, sinh năm 1977 và chị Trần Thị H, sinh năm 1976. Cùng địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã Đ, tỉnh Lào Cai). Vắng mặt;
  5. Anh Lý Văn Đ, sinh năm 1982 và chị Lý Thị C, sinh năm 1985. Cùng địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã Đ, tỉnh Lào Cai). Vắng mặt;
  6. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã C, tỉnh Lào Cai). Vắng mặt;

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã C, tỉnh Lào Cai). Vắng mặt;
  2. Chị Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội (nay là xã Y, thành phố Hà Nội). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Khoảng đầu tháng 6 năm 2024, Nguyễn Văn L cần tiền để đầu tư kinh doanh quán ăn cùng với bạn gái là Nguyễn Thị Thúy H1 tại khu vực phường M, quận C nên L nghĩ đến việc thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình cho ngân hàng, nhưng do diện tích đất nhà L đang ở thuộc thôn A, xã Đ, huyện V không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên L đã sử dụng tài khoản facebook của mình có tên là “Người xa quê” truy cập vào hội nhóm “nhận làm sổ đỏ” sau đó L gửi bình luận vào 01 bài đăng quảng cáo làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu thì thấy có người nhắn tin liên hệ lại (L không nhớ tên tài khoản người này) và nói nếu L muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải vẽ sơ đồ, đo diện tích đất cần làm và gửi thông tin cá nhân cho họ. Chi phí làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 25.000.000 đồng, L đồng ý. Tiếp đó, người này yêu cầu L chuyển số tiền 7.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Á1 (A) số 16970531 có tên “Trần Hoàng Đ1” để đặt cọc. L đã nhờ người chuyển hộ số tiền này. Khoảng 10 ngày sau, L nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn L qua dịch vụ chuyển phát nhanh đến địa chỉ L đang ở tại M, quận C, thành phố Hà Nội và thanh toán số tiền còn lại là 18.000.000 đồng cho nhân viên giao hàng. Sau đó, người có tài khoản ngân hàng tên “Trần Hoàng Đ1” nói từ lần sau có nhu cầu làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giá vẫn là 25.000.000 đồng nhưng sẽ trả công cho L 2.000.000 đồng/01 giấy. Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất L mang đến Ngân hàng AGRIBANK huyện V, tỉnh Yên Bái (Phòng G) để hỏi làm thủ tục thế chấp vay vốn, nhưng do không có đủ các thành viên trong gia đình nên không làm hợp đồng vay vốn được.

Bằng phương thức đặt làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua mạng xã hội như trên, L đã nảy sinh ý định nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những người có nhu cầu để hưởng lợi nhuận chênh lệch. Nhằm tạo lòng tin, L đưa thông tin là mình có người quen làm ở Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Y có thể nhờ làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh, thủ tục đơn giản. Trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2024, Nguyễn Văn L đã nhiều lần nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhiều người để chiếm đoạt tổng số tiền 263.500.000 đồng cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 6 năm 2024, Nguyễn Văn S1 là anh trai ruột của Nguyễn Văn L đến nhà L chơi. Qua nói chuyện, biết anh S1 có nhu cầu làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, L nói có người quen làm ở Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Y có thể nhờ làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh, thủ tục đơn giản với giá 25.000.000 đồng, anh S1 tin tưởng và đồng ý nhờ L làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên con gái anh S1 sang tên anh S1. Để anh S1 tin tưởng, ngày hôm sau L đã nhờ Hoàng Văn T3 thường trú cùng thôn với L, hiện đang làm quán cơm cùng L ở Hà Nội nghe điện thoại của anh S1 nói với anh S1 là mình làm ở Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Y, vì anh S1 là người nhà của L nên T3 sẽ giúp và có gì cần cứ trao đổi qua L. Sau đó L đặt làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh S1 qua mạng xã hội theo phương thức cũ. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn S1, L gửi xe ô tô khách về cho anh S1. Nhận được giấy anh S1 nhờ Chu Tam H2, thường trú tại thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng của T3 để L thanh toán tiền phí làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nợ lại 5.000.000 đồng. L nói với anh S1 nếu có ai muốn làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì giới thiệu và cho số điện thoại của L để trực tiếp liên hệ.

Lần thứ hai: Khoảng đầu tháng 7 năm 2024 qua anh S1 giới thiệu, L nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Phạm Thị L1 và chị Phạm Thị T1 cùng trú tại thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái. L thống nhất chi phí mỗi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tính theo diện tích đất cần làm, đối với đất thổ cư chi phí là 180.000 đồng/m² và đối với đất vườn tạp là 50.000 đồng/m². Chị L1 đồng ý và nhờ L làm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chị T1 đồng ý và nhờ L làm 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 16/7/2024 L nhận được ảnh 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị T1 và chị L1 từ người sử dụng tài khoản ngân hàng có tên “Trần Hoàng Đ1” gửi cho. L gửi 04 ảnh này cho anh S1 và bảo anh S1 thu tiền đặt cọc của chị T1 và chị L1 là 30.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của chị T1 và chị L1, anh S1 nhờ Chu Tam H2 chuyển số tiền 35.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Hoàng Văn T3 cho L. Trong đó có 5.000.000 đồng là tiền Sáu trả cho L khi L làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho S1 trước đó. Ngày 18/7/2024 L nhận được 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phạm Thị T1 và Phạm Thị L1, L gửi xe ô tô khách về, nhờ anh S1 nhận rồi đưa cho chị T1, chị L1 và thu hộ số tiền còn lại là 70.500.000 đồng. Khoảng 03 ngày sau L về gặp S1 để lấy tiền.

Lần thứ ba: Cũng vào khoảng thời gian đầu tháng 7 năm 2024, qua anh S1 giới thiệu, L nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Lý Văn T2, trú tại thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái. L nói chi phí làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 17.000.000 đồng/100m². anh T2 đồng ý và bảo L làm cho 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, L yêu cầu anh T2 gửi thông tin cá nhân và thông tin diện tích đất cần làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua ứng dụng Zalo cho L. Ngày 11/7/2024 L nhận được ảnh 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lý Văn T2 và Trần Thị H, L đã gửi qua tin nhắn Zalo cho anh T2 và yêu cầu anh T2 đặt cọc số tiền 30.000.000 đồng, đồng thời gửi cho anh T2 số tài khoản ngân hàng của Hoàng Văn T3. Anh T2 đã nhờ anh Vũ Đình Q trú cùng thôn chuyển hộ số tiền trên đến tài khoản ngân hàng của T3. Đến ngày 15/7/2024 L nhận được 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua dịch vụ chuyển phát nhanh. L cầm 04 giấy chứng nhận này mang đến nhà anh T2 đưa cho anh T2 và nhận số tiền 75.000.000 đồng.

Lần thứ tư: Ngày 15/7/2024 sau khi giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Lý Văn T2, L tiếp tục nhận làm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 28.000.000 đồng cho anh Lý Văn Đ là em họ anh T2 trú cùng thôn. Khoảng ba ngày sau L cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về trả cho anh Đ nhưng do khi đó anh Đ có việc bận nên nhờ anh T2 ra lấy và trả tiền cho L. Anh T2 gặp L tại quán nước gần hầm chui K đường C - Lào Cai thuộc thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái đưa cho L số tiền 28.000.000 đồng và nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang về cho anh Lý Văn Đ.

Lần thứ năm: Khoảng cuối tháng 7 năm 2024, qua anh S1 giới thiệu L nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn B trú tại thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái. Ông B gửi cho L thông tin cá nhân cùng thông tin, địa chỉ thửa đất. L và ông B thống nhất với nhau chi phí làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B là 40.000.000 đồng. Đến ngày 30/7/2024 L gửi ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua tin nhắn Zalo cho ông B và bảo ông B đặt cọc số tiền 5.000.000 đồng do ông B không dùng tài khoản ngân hàng nên bảo L đến nhà ông B lấy tiền. L nhờ anh S1 đến nhà ông B nhận tiền hộ và chuyển lại cho L. Sau khi nhận được tiền L đã đặt cọc số tiền 5.000.000 đồng cho người dùng tài khoản ngân hàng có tên “Trần Hoàng Đ1” để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B. Ngày 03/8/2024 L đi cùng bạn gái là Nguyễn Thị Thúy H1 đến nhà ông B đưa cho ông B xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn L, mà L đặt làm trên mạng sau khi xem ông B nghi ngờ là giấy chứng nhận giả. Ngày 05/8/2024 ông B đến nhà anh Nguyễn Văn S1 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà anh L làm hộ anh S1 để xem là giả hay thật thì anh S1 vẫn khẳng định là giấy chứng nhận thật và nói với ông B nếu không tin thì có thể mang đi kiểm tra. Ngày 06/8/2024 ông B mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn S1 đến Ủy ban nhân dân xã C, huyện V nhờ kiểm tra thì được biết giấy chứng nhận này là giả, ông B đã thông tin lại cho anh S1 và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh S1. Khi biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình là giả, anh S1 đã mang đi đốt bỏ. Sau đó vài ngày thì L nghe tin mọi người biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất L làm cho anh S1 là giả nên L không liên hệ với người sử dụng dùng tài khoản ngân hàng có tên “Trần Hoàng Đ1” để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B nữa. Sau khi biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nguyễn Văn L làm cho mình là giả ngày 28/8/2024 chị Phạm Thị T1 đã đến Công an huyện V, tỉnh Yên Bái trình báo vụ việc.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Thúy H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ máy màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ máy màu tím, máy cũ đã qua sử dụng; 03 túi nilon nhãn hiệu CLEAR bên trong đựng nhiều giấy tờ, tài liệu và số tiền 50.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn S1.

- 10 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Phạm Thị L1 - SN: 1979 trú tại Xóm B, thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều mang tên bà Phạm Thị T1 - SN: 1982 trú tại Xóm B, thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều mang tên ông Lý Văn T2 - SN: 1977 và bà Trần Thị H - SN: 1976 cùng trú tại thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Lý Văn Đ - SN: 1982 và bà Lý Thị C - SN: 1985 cùng trú tại thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn L - SN: 1974 trú tại xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn S1 đã bị anh S1 đốt bỏ không thu giữ được; Đối với chiếc điện thoại Nguyễn Văn L sử dụng để liên lạc, thực hiện hành vi phạm tội L làm rơi mất tại Hà Nội không thu giữ được.

Kết luận giám định số 137/KL-KTHS ngày 18/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: 10 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gửi giám định đều là tài liệu giả.

Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã xét xử (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 31/8/2024.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 16/7/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 01/QĐ-VKS-P7 kháng nghị toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai). Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng: Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái để điều tra lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai trong giai đoan sơ thẩm. Cụ thể, khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chính gia đình bị cáo; bị cáo đã phát hiện là giả, bị cáo mang đến ngân hàng nhưng cán bộ ngân hàng cũng không phát hiện là giấy giả, nên sau đó bị cáo mới nói với anh S1 và những người khác là có quen biết người làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thủ tục nhanh gọn và nhận làm với mục đích lấy tiền của các bị hại. Bị cáo không có ý kiến gì đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai) để điều tra lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, phúc thẩm đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến khiếu nại. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ của vụ án nên có đủ cơ sở để xác định:

[2.1] Vào đầu tháng 6/2024, Nguyễn Văn L đã tự liên hệ với một người không rõ danh tính qua mạng xã hội Facebook, sau đó tự cung cấp thông tin cá nhân, diện tích và sơ đồ thửa đất của gia đình đặt làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả với giá 25.000.000đ nhằm mục đích sử dụng để thế chấp tại Ngân hàng để vay vốn làm ăn. Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, L đã mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đến Ngân hàng Agribank huyện V (phòng G) để hỏi thủ tục thế chấp vay vốn, nhưng do không đủ các thành viên trong gia đình nên không làm được hợp đồng vay vốn.

Việc không thực hiện được giao dịch tại Ngân hàng là do nguyên nhân khách quan chứ không phải do ý chí chủ quan của Nguyễn Văn L. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn L có dấu hiệu của tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự.

[2.2] Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ cuối tháng 6 đến tháng 8 năm 2024, bằng phương thức đặt làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả như trên, L đã nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người có nhu cầu để hưởng chênh lệch. Để củng cố lòng tin của các bị hại, Nguyễn Văn L đưa ra thông tin gian dối là mình có người quen làm ở Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Y có thể làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh, thủ tục đơn giản. Sau khi thỏa thuận được giá và đề nghị người có nhu cầu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cung cấp thông tin cá nhân, vị trí, diện tích thửa đất, L đã liên hệ với 01 người không xác định được nhân thân, lai lịch qua mạng xã hội Facebook để đặt làm tổng số 10 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho anh Nguyễn Văn S1; chị Phạm Thị T1; chị Phạm Thị L1; anh Lý Văn T2 (vợ Trần Thị H); anh Lý Văn Đ (vợ Lý Thị C) và ông Nguyễn Văn B để chiếm đoạt tổng số tiền 263.500.000 đồng.

Xét thấy, hành vi bị cáo đưa thông tin là mình có người quen làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển thông tin của người có nhu cầu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một người có tên trên mạng Facebook là “Trần Hoàng Đ1” làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, sau đó chuyển lại cho những người nhờ làm giấy chứng nhận để chiếm đoạt tiền của những người này tổng số tiền là 263.500.000 đồng (Giá 25 triệu đồng/giấy nhằm hưởng lợi 2.000.000đ/giấy) là chỉ thực hiện một hành vi nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội phạm là tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định Điều 341 Bộ luật Hình sự. Do đó theo hướng dẫn tại Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2021của Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn là tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai:

Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn L đã thực hiện 02 hành vi riêng biệt đó là: Hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của chính bị cáo mang đi thế chấp để vay tiền đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và hành vi đưa thông tin gian dối, đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho các bị hại để chiếm đoạt tiền là thỏa mãn cấu thành hai tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng chỉ bị truy cứu trách hiệm hình sự về tội nặng hơn là tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, việc cấp sơ thẩm chỉ truy tố, xét xử bị cáo về một tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có dấu hiệu bỏ lọt tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

Để đảm bảo việc giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật Hội đồng xét xử nhận thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai là có căn cứ, cần được chấp nhận để hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai), giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai điều tra lại theo quy định của pháp luật.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 16/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai). Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn L cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai thụ lý lại vụ án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 TAND tối cao;
  • - VKSND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - CQĐT CA tỉnh Lào Cai;
  • - TAND khu vực 3 – Lào Cai;
  • - VKSND khu vực 3 – Lào Cai;
  • - THADS tỉnh Lào Cai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại (6);
  • - Người có QL,NVLQ (2)
  • - Lưu: HSVA, TA, HCTP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-PT ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 40/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L - “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger