Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30-9-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Quỳ

Ông Nguyễn Văn Lượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2025/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 6 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 62/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K (trước đây là xã Đ, huyện K), thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K (trước đây là xã Đ, huyện K), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện đề ngày 11/6/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H xây dựng hạnh phúc trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 09/3/2022. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống cùng gia đình anh H ở xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, không thống nhất được với nhau trong làm ăn, phát triển kinh tế gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng không có con chung nên tình cảm dần lạnh nhạt, thiếu sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay, mỗi người đều đã có cuộc sống riêng, không còn quan tâm gì đến nhau. Nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, xin được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh H không có con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn H trong quá trình giải quyết vụ án không đến Toà án làm việc nên không có lời khai. Tuy nhiên, theo các lài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được tại gia đình và chính quyền địa phương thể hiện: Chị T và anh H đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện K vào năm 2022. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn tình cảm, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều khác biệt về quan điểm sống, không thống nhất được với nhau về mọi việc trong gia đình. Hiện nay, vợ chồng đang sống ly thân và không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau. Anh H và chị T không có con chung. Anh H đã được thông báo về việc Toà án đang giải quyết nội dung vụ án.

Chị T đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh H. Về tài sản chung, đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  • - Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của các đương sự, kết quả xác minh, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án có yêu cầu giải quyết về việc ly hôn, bị đơn là anh Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại thôn Đ, xã K (trước đây là xã Đ, huyện K), thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 27/6/2025; Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
  2. [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh H vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ độ tuổi kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08, ngày 09/3/2022. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  4. [4] Các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được xác định: Trong thời gian chung sống, do có nhiều khác biệt về quan điểm sống, không thống nhất được với nhau về mọi việc trong gia đình, thiếu sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau nên giữa chị T và anh H thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần cố gắng khắc phục, hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Hiện nay, vợ chồng đang sống ly thân và không còn quan tâm, trách nhiệm đến nhau. Anh H không đến Toà án làm việc, bỏ mặc việc chị T xin ly hôn. Xét thấy, chị T và anh H đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chung sống với nhau, không tôn trọng nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  5. [5] Về con chung: Chị T và anh H không có con chung.
  6. [6] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  7. [7] Về án phí: Chị T là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. [8] Về quyền kháng cáo: Chị T và anh H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  2. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008071 ngày 25/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng (nay là Thi hành án dân sự thành phố H); chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị T và anh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND Khu vực 6 – Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - UBND xã Kiến Hải, TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hoàng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Đôi

Khúc Thị Minh

Vũ Văn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị T xin ly hôn anh Nguyễn Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger