|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/HNGĐ-PT.
Ngày: 17 - 11 - 2025.
Về việc: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông.
Bà Hoàng Thị Hải Hường.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp, tham gia phiên tòa.
Ngày 17/11/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 60/2025/TLPT- HNGĐ ngày 20/10/2025 về việc: “Ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 22/2025/HNGĐ-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 58/2025/QĐ-PT ngày 03/11/2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1959 (Có mặt);
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1959 (Có mặt);
- Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị T - Là bị đơn.
Số căn cước công dân: 024059009041.
Nơi thường trú: Thôn T, xã P, tỉnh Bắc Ninh;
Số căn cước công dân: 024159006598.
Nơi thường trú: Thôn T, xã P, tỉnh Bắc Ninh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn ông Nguyễn Văn S trình bày: Ông và bà Đỗ Thị T kết hôn ngày 15/6/1979 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Hà Bắc (nay là xã P, tỉnh Bắc Ninh). Sau kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau ngay tại gia đình ông, tình cảm vợ chồng ban đầu bình thường. Mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh từ năm 2012 nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau nên ông đã làm đơn xin ly hôn nhưng được Toà án hoà giải nên ông rút đơn về đoàn tụ. Tuy nhiên sau đó ông và bà T cũng không chung sống với nhau từ năm 2012 đến nay. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên ông đề nghị Toà án giải quyết cho ông ly hôn bà T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Quyết T1, sinh năm 1984, Nguyễn Đức C, sinh năm 1992, hiện các con đều đã trưởng thành. Ông không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông S không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại biên bản hoà giải bị đơn bà Đỗ Thị T trình bày: Bà và ông S kết hôn năm 1979, đăng ký tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã P, tỉnh Bắc Ninh). Quá trình chung sống đến năm 2013 thì vợ chồng mâu thuẫn do ông S có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, bà đã khuyên bảo nhiều nhưng ông S không thay đổi. Vợ chồng ly thân từ năm 2015 đến nay, không quan hệ tình cảm, không quan tâm chăm sóc cho nhau. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, bà cũng không còn tình cảm gì với ông S nữa. Nhưng các con bà đi cai nghiện chưa được về, bà muốn các con yên tâm cai nghiện và có gia đình đầy đủ nên bà không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung là Nguyễn Quyết T1, sinh năm 1984, Nguyễn Đức C, sinh năm 1992, hiện các con đều đã trưởng thành, tự lập. Bà không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Bà xác định bà và ông S có tài sản chung nhưng bà chưa yêu cầu giải quyết, khi nào yêu cầu bà sẽ làm đơn gửi cho Toà án sau.
Về công nợ chung: Bà không đề nghị Tòa án giải quyết.
Với nội dung nêu trên, bản án Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm số: 22/2025/HNGĐ-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh, đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn S được ly hôn bà Đỗ Thị T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 11/9/2025, bà Đỗ Thị T là bị đơn kháng cáo, nội dung kháng cáo không chấp nhận toàn bộ nội dung của bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh cụ thể:
- Lúc thì gọi bà là bị đơn, lúc thì gọi là nguyên đơn;
- Giải quyết không đúng nội dung đơn bà trình bày để đưa ra phán quyết (Trong đơn bà đã trình bày cụ thể nguyện vọng của bà nếu ly hôn và nếu không ly hôn rất rõ ràng).
- Trong đơn bà trình bày không có nội dung nói ông S hoặc bà trai gái ngoài luồng, căn cứ vào đâu mà Tòa sơ thẩm nêu trong bản án.
- Trong bản tự khai về tài sản của hai vợ chồng khi chung sống không được Tòa sơ thẩm chấp nhận.
- Tòa sơ thẩm triệu tập bà nhiều lần, lần cuối hẹn 8 giờ ngày 28/7/2025 nộp bản tự khai khi chưa nộp bản tự khai thì Tòa sơ thẩm đã xét xử.
Tại phiên Toà phúc thẩm, ông Nguyễn Văn S là nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bà Đỗ Thị T là bị đơn không rút kháng cáo, các đương sự không tự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án.
Bà Đỗ Thị T trình bày: Bà không đồng ý ly hôn với ông S vì tài sản chung của vợ chồng chưa được giải quyết.
Ông Nguyễn Văn S trình bày: Ông nhất trí với bản án sơ thẩm đã xét xử, không đồng ý với kháng cáo của bà thành.
Bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Văn S không tranh luận đối đáp gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị T; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 22/2025/HNGĐ-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh. Bà Đỗ Thị T là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét kháng cáo của bà Đỗ Thị T đối với bản án sơ thẩm số: 22/2025/HNGĐ-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh, Hội đồng xét xử thấy:
Trong bản án Tòa sơ thẩm không có nêu tên bà T là nguyên mà xác định bà T là bị đơn trong vụ án Hôn nhân và gia đình do ông Nguyễn Văn S là nguyên đơn. Tuy nhiên bản án sơ thẩm có ghi nhầm tên bà T là bà S và ông S là ông T, nhưng Tòa sơ thẩm đã Quyết định sửa chữa bổ sung bản án đối với sự nhầm lẫn này.
Đối với nội dung ông S xin ly hôn bà T, tại Biên bản hòa giải ngày 28/7/2025, bà T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do ông S có quan hệ tình cảm với nhiều người phụ nữ khác nhưng không có chứng cứ chứng minh, vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 đến nay nhưng bà vẫn còn tình cảm với ông S nên không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông S trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do bà T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác (BL56 Biên bản phiên tòa sơ thẩm) nên Tòa sơ thẩm ghi lại sự việc trên cơ sở lời khai của các bên đương sự.
Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông S không yêu cầu giải quyết, tại phiên toà sơ thẩm, bà T yêu cầu chia tài sản chung. Xét thấy, bà T đưa ra yêu cầu sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; căn cứ khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét giải quyết trong vụ án này. Bà T có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn bằng một vụ án khác là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 07/8/2025, Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định số 53/2025/QĐXXST-HNGĐ, đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vụ án xin ly hôn giữa ông S và bà T, do không tống đạt trực tiếp Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà T nên Tòa sơ thẩm đã niêm yết Quyết định trên tại nơi bà T cư trú và tại Trụ sở Tòa án nơi tiến hành giải quyết vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm bà T cũng có mặt tham gia phiên tòa. Do vậy, bà T kháng cáo cho rằng Tòa sơ thẩm hẹn 8 giờ ngày 28/7/2025 nộp bản tự khai, khi chưa nộp bản tự khai thì Tòa sơ thẩm đã xét xử là không có căn cứ.
[2]. Tại cấp phúc thẩm, bà Đỗ Thị T không xuất trình được các tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét đối với kháng cáo của bà T, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
[3]. Về án phí: Do bà Đỗ Thị T là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[4]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị T; giữ nguyên bản án Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm số: 22/2025/HNGĐ-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh.
- Về án phí: Miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm cho bà Đỗ Thị T.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Lương |
Bản án số 40/2025/HNGĐ-PT ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về ly hôn
- Số bản án: 40/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S-T tranh chấp ly hôn
