|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HS-ST
Ngày 02-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Luân Văn Tuân;
Bà Triệu Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2025/TLST-HS 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/HSST-QĐ ngày 26/11/2025 đối với bị cáo:
Hoàng Thị N; sinh ngày 12/7/1965 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: 020165007906; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn D và bà Lăng Thị K (đều đã chết); có chồng là Nông Văn B (sinh năm 1964); có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án: Không có; tiền sự: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội số 2156/QĐ-XPHC ngày 05/9/2024, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn phạt tiền về hành vi đánh bạc trái phép và chứa chấp việc đánh bạc; nhân thân: Chưa bị kết án, đã bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Trung V, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm T, Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Nông Thị L, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Anh Bế Văn Q, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Anh Bế Văn Q1, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 17/7/2025, Hoàng Thị N gọi điện thoại cho Bế Văn Q1 rủ đến nhà của con dâu là Nông Thị L chơi. Sau đó, Bế Văn Q1 rủ thêm Bế Văn Q. Bế Văn Q đồng ý. Trước khi đi, Bế Văn Q mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, tại nhà Nông Thị Lúa, Bế Văn Q rủ Nông Thị L, Hoàng Thị N, Bế Văn Q1 đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh sâm. Mọi người đồng ý. Bế Văn Q lấy bộ bài tú lơ khơ đã chuẩn bị từ trước ra, sau đó 04 người cùng nhau ngồi xuống chiếu đã được trải sẵn trên nền phòng khách nhà Nông Thị Lúa để đánh bạc.
Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 17/7/2025, tổ công tác Công an xã T làm nhiệm vụ tại khu vực thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn phát hiện tại nhà của Nông Thị L có 04 đối tượng gồm Hoàng Thị N, Bế Văn Q1, Nông Thị L, Bế Văn Q đang đánh bạc bằng hình thức đánh sâm. Tang vật thu giữ trên chiếu bạc gồm số tiền 315.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; thu giữ trên người Bế Văn Q số tiền 1.580.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme; thu giữ của Bế Văn Q1 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 12T1-236.65; thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của Nông Thị L. Khi bị phát hiện, Bế Văn Q1 bỏ chạy, đến ngày 18/7/2025, Bế Văn Q1 đã đến trụ sở Công an xã T giao nộp số tiền 150.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc.
Theo lời khai của các đối tượng, khi tham gia đánh bạc, Nông Thị L không mang tiền ra để đánh, dự định khi nào thua thì mới lấy tiền ra để trả cho người thắng, khi bị phát hiện Nông Thị L thắng được khoảng 30.000 đồng. Bế Văn Q đem theo khoảng 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị phát hiện thắng khoảng 80.000 đồng. Bế Văn Q1 đem theo 300.000 đồng, khi bị phát hiện thua khoảng 150.000 đồng. Hoàng Thị N đem theo 200.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị phát hiện thua hết 200.000 đồng.
Cách thức đánh bạc bằng hình thức đánh sâm như sau: Các đối tượng thỏa thuận, mỗi quân bài là 5.000 đồng, cách tính thắng thua là mỗi người chơi được chia 10 lá bài, ván đầu tiên bỏ một lá bài vào giữa và đếm điểm xem người nào là người được đánh trước, từ ván thứ hai trở đi, người thắng ván trước sẽ được đi đầu, ai đánh hết bài trước thì là người thắng, người thua đếm số bài còn lại trên tay mỗi lá còn lại tương ứng với 5.000 đồng; khi chơi có thể báo “sâm” có nghĩa là có thể đánh hết bài mà không ai chặn được, có thể báo sâm ngay từ đầu nếu người báo sâm mà bài không ai đánh chặn thì là người thắng, mỗi người thua phải trả cho người thắng khi báo sâm 100.000 đồng, còn khi báo sâm mà bị người khác chặn thì người báo sâm phải trả cho người chặn được 300.000 đồng. Cách đánh sâm là lấy quân to chặn quân nhỏ (to nhất là quân 2, nhỏ nhất là quân 3) không tính chất, chỉ được chặn lá 2 bằng tứ quý (bốn lá cùng số) không được về bằng quân 2, khi còn một lá phải báo để người khác phải đánh lá lớn nhất để chặn.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSKV2 ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Thị N về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khai nhận nội dung sự việc như nêu trên. Chị Nông Thị L khai, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo là thuộc sở hữu của chị, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị được trả lại. Anh Bế Văn Q khai số tiền 1.580.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme là thuộc sở hữu của anh, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị được trả lại. Anh Bế Văn Q1 khai, số tiền 150.000 đồng anh đã giao nộp cho cơ quan Công an là số tiền dùng để đánh bạc; chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 12T1-236.65 là thuộc sở hữu của anh, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị được trả lại.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, phát biểu ý kiến: Bị cáo Hoàng Thị N có hành vi đánh bạc với số tiền 2.045.000 đồng. Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc ngày 05/9/2024, chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người có công với cách mạng, được Bộ cấp Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến và được hưởng chế độ trợ cấp đối với dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ Quốc tế; bị cáo là người cao tuổi, dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.045.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ; trả lại 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 12T1 – 236.65 cho anh Bế Văn Q1, 01 điện thoại Oppo cho chị Nông Thị L và 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi lắp kèm sim cho anh Bế Văn Q. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Khoảng từ 13 giờ 00 phút đến 15 giờ 15 phút ngày 17/7/2025, tại nhà của chị Nông Thị L, bị cáo Hoàng Thị N đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh sâm cùng với Bế Văn Q, Nông Thị L và Bế Văn Q1. Số tiền đánh bạc là 2.045.000 đồng. Ngày 05/9/2024, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép và chứa chấp việc đánh bạc, chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
- [4] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Thị N phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
- [5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người có công với cách mạng, được Bộ cấp Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến và được hưởng chế độ trợ cấp đối với dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ Quốc tế và là người cao tuổi (trên 60 tuổi) và là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [6] Về nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, đã bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội số 2156/QĐ-XPHC ngày 05/9/2024, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn phạt tiền về hành vi đánh bạc trái phép và chứa chấp việc đánh bạc.
- [7] Xét thấy, số tiền đánh bạc trong vụ án không lớn. Khi tham gia đánh bạc, bị cáo đem theo 200.000 đồng. Bị cáo Hoàng Thị N có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặc dù bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng tình tiết này đã sử dụng làm tình tiết định tội. Bị cáo là người cao tuổi, sức khỏe không ổn định, có xác nhận của bệnh viện ngày 14/8/2025 về việc bị cáo bị nhiễm khuẩn hệ tiết niệu, rối loạn chức năng tiền đình, huyết áp thấp, viêm phế quản cấp, thoái hóa cột sống... Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định.
- [8] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người cao tuổi, bệnh tật, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [9] Đối với Bế Văn Q, Nông Thị L và Bế Văn Q1 có hành vi đánh bạc và rủ rê đánh bạc. Tuy nhiên, do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và những người này chưa từng bị kết án, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự.
- [10] Về vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.045.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ là công cụ phạm tội; trả lại 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 12T1 – 236.65 cho anh Bế Văn Q1, 01 điện thoại Oppo cho chị Nông Thị L và 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi lắp kèm sim cho anh Bế Văn Q là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản, không liên quan đến hành vi phạm tội.
- [11] Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 6 Điều 15; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét thấy, bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí cho bị cáo.
- [12] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [13] Xét các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 6 Điều 15; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh
- Về hình phạt
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 2.045.000 (hai triệu không trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng được Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L chuyển vào tài khoản số 3949.0.1054441.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn theo Ủy nhiệm chi lập ngày 30/10/2025 của Kho bạc nhà nước khu vực VI.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 (năm mươi hai) lá.
- Trả lại cho anh Bế Văn Q1: 01 (một) chiếc xe mô tô Honda Wave, màu xanh, đen, biển kiểm soát 12T1 - 236.65, số máy JA39E2653571; số khung RLHJA3926NY156611, xe cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho chị Nông Thị L: 01 (một) chiếc điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Oppo màu xanh, số IMEI 1: 860577044928634; số IMEI 2: 860577044928626, máy không lắp sim, cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho anh Bế Văn Q: 01 (một) chiếc điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi màu xanh, số IMEI 1: 865480062450406/00; số IMEI 2: 865480062450414/00, lắp 01 (một) sim số thuê bao số 0857139080, cũ đã qua sử dụng.
- Án phí
- Quyền kháng cáo
Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị N phạm tội Đánh bạc.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/12/2025).
Giao bị cáo Hoàng Thị N cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hoàng Thị N có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/11/2025 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Lạng Sơn).
Bị cáo Hoàng Thị N được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/12/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hoảng từ 13 giờ 00 phút đến 15 giờ 15 phút ngày 17/7/2025, tại nhà của chị Nông Thị L, bị cáo Hoàng Thị N đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh sâm cùng với Bế Văn Q, Nông Thị L và Bế Văn Q1. Số tiền đánh bạc là 2.045.000 đồng. Ngày 05/9/2024, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép và chứa chấp việc đánh bạc, chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
