|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – QUẢNG TRỊ Bản án số: 39/2025/HSST Ngày: 18 - 11 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quang Minh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thúy Vinh và bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hoàng Mai - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại Đ - Hội trường xét xử án hình sự Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị và Đ thành phần - Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Q, Tòa án nhân dân Khu vực 1 tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn V, sinh ngày 27/12/1990, tại xã P, tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn H, xã P, tỉnh Quảng Trị; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn phổ thông: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lê Quý L và bà Nguyễn Thị Đ1: Lê Đoàn Anh T 01 người con.
Tiền án: có 01 tiền án (theo Bản án số 79/2024/HS-PT ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt Lê Văn V 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”); Tiền sự: không;
Quá trình nhân thân: Ngày 20 tháng 11 năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xử 07 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thi hành án tại Trại giam Đ3đến ngày 30 tháng 5 năm 2013 ra trại. Ngày 29 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phúc thẩm y án sơ thẩm xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thi hành án tại Trại giam N đến ngày 08 tháng 02 năm 2025 ra trại về địa phương. Ngày 21 tháng 12 năm 2023 bị Chủ tịch UBND xã Txử phạt 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, đã thi hành.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 2 - Công an tỉnh Q ngày 17/7/2025 cho đến nay; có mặt tại điểm cầu thành phần.
* Bị hại: Công ty TNHH S. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến Minh Đ2– Giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Cao C– Phó Giám đốc; có Đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Quý L1 năm 1966. Địa chỉ: Tổ dân phố H, xã P, tỉnh Quảng Trị; có mặt;
- Ông Nguyễn Hữu T1 năm 1964. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 14/7/2025, do cần tiền mua ma túy để sử dụng nên Lê Văn V1 khiển xe mô tô mang nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu đỏ đen của bố ruột là ông Lê Quý L2 theo đường Hvào khu vực phường Đ tài sản sơ hở để lấy trộm. Khi đi đến khu vực Công ty TNHH S1, tỉnh Quảng TrịVdừng xe phía ngoài Công ty, hướng vào trước công chính, nhảy qua tường rào vào bên trong rồi đi đến khu vực xưởng cơ khí lấy trộm 03 bánh xe Goòng bằng kim loại, màu đen để phía trước nhà xưởng bằng cách khiêng từng bánh ra ngoài. Sau đó, Vsử dụng xe mô tô lần lượt chở 03 bánh xe Goòng đến tiệm thu mua phế liệu của ông Nguyễn Hữu T2 tổ dân phố T, phường Đ được 700.000 đồng. Số tiền bán 03 bánh xe, Vsử dụng để mua ma túy của một người không quen biết một mình sử dụng hết.
Tại Kết luận định giá số 1851/STC-KLĐG ngày 26/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 03 bánh xe Goòng làm bằng kim loại sắt, tổng khối lượng 113kg trị giá 904.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q thu giữ và trả lại cho đại điện Công ty Công ty TNHH S2.
T2tạm giữ từ L4 xe mô tô không gắn biển số, nhân hiệu YAMAHA, số loại JUPITER MX, sơn màu đỏ - đen, số khung hiện tại: “RLCJ5B940BY110516”, số máy hiện tại: “5B94-110529”, xe đã qua sử dụng đăng ký sở hữu của ông Lê Quý L
T2lưu giữ 01 USB, nhân hiệu KINGSTON, dung lượng 64 GB, bên trong lưu trữ file video có tên “ngày 14.7.2025.mp4.mp4", được niêm phong trong bì thư, đưa vào làm chứng cứ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Hữu T3 đã nhận lại số tiền 700.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Ông Lê Quý L3 đề nghị Tòa án xem xét trả lại xe mô tô do bị cáo sử dụng hiện đang bị tạm giữ và cam đoan không có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKSKV1-KT ngày 22/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lê Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Văn V từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng, áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại 01 xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiture MX, sơn màu đỏ - đen, số khung RLCJ5B940BY110516, số máy 5B94-110529 – ký hiệu A là số khung, số máy nguyên thủy cho ông Lê Q L1; Tịch thu lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa file video chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo; Về trách nhiệm dân sự không xem xét; Về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Lê Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Xét đại diện bị hại có Đơn xin xét xử vắng mặt, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai, nên việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử. Bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đại diện bị hại.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 14/7/2025, tại phường Đ, tỉnh Quảng Trị, Lê Văn V đã có hành vi lén lút lấy trộm của Công ty TNHH S 03 bánh xe Goòng làm bằng kim loại sắt, tổng khối lượng 113kg. Kết luận định giá số 1851/STC-KLĐG ngày 26/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định 03 bánh xe Goòng mà Lê Văn V2 trộm trị giá 904.000 đồng (Chín trăm linh bốn nghìn đồng). Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Lê Văn V3 có 01 án tích về cùng tội danh này. Do đó, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và việc truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát, lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét hành vi của ông Nguyễn Hữu T4 người đã mua tài sản do bị cáo trộm cắp thấy rằng, quá trình điều tra xác định ông Tlhoàn toàn không biết tài sản bị cáo đem bán là do trộm cắp mà có nên việc Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm đối với ông Tlcó căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đã từng bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản nên hoàn toàn nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện và bản thân là người sử dụng ma túy nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Thời điểm và phương thức phạm tội của bị cáo thể hiện sự manh động, liều lĩnh và ý thức coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có một hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất thực hiện hành vi phạm tội cũng như hậu quả của tội phạm mà bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho bị cáo khi quyết định về hình phạt. Ngoài ra, sau khi tội phạm bị phát hiện, bị cáo dùng tiền lấy từ bố mẹ để chuộc lại tài sản trộm cắp đem trả cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng thêm cho bị cáo ngoài đề nghị của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, xét việc hoàn trả tài sản được thực hiện khi tội phạm đã được chứng minh, bị cáo không thể chối cãi mà bắt buộc phải thực hiện. Điều này không thể hiện sự chủ động, tích cực cũng như thái độ của bị cáo mong muốn khắc phục hậu quả của tội phạm do mình gây ra, nên chỉ được cân nhắc để xem xét giảm một phần nhỏ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về nhân thân, bị cáo là người nhiều lần bị xét xử và xử lý vi phạm hành chính về các hành vi khác nhau.
[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất thực hiện hành vi, mức độ hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy rằng, mặc dù tài sản do bị cáo chiếm đoạt trị giá không lớn, nhưng ở thời điểm phạm tội, bị cáo đang có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản. Bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa, đại diện gia đình trình bày quan điểm thể hiện gia đình đã có nhiều cố gắng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo nhưng đều không có kết quả, hoàn toàn bất lực đối với bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài thì mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, tránh việc bị cáo tiếp tục phạm tội, đồng thời đảm bảo tính đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp tạo thu nhập ổn định, lại phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định 01 xe mô tô do bị cáo sử dụng làm phương tiện di chuyển đến nơi thực hiện hành vi phạm tội nhưng không liên quan trực tiếp đến tội phạm và đây là tài sản hợp pháp của ông Lê Quý L. Do đó, cần áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại xe mô tô trên cho ông Lê Quý L theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Đối với 01 USB, nhãn hiệu KINGSTON, dung lượng 64 GB, lưu trữ file video có tên “ngày 14.7.2025.mp4.mp4" bên trong có chứa hình ảnh là tài liệu chứng cứ có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu, lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về Điều luật áp dụng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Lê Văn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/7/2025).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn V.
- Về xử lý vật chứng:
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/11/2025). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự;
Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn V4 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo việc thi hành án theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
- Trả lại cho ông Lê Quý L 01 xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiture MX, sơn màu đỏ - đen, số khung RLCJ5B940BY110516, số máy 5B94-110529, xe đã qua sử dụng.
Vật chứng hiện có tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị và có đặc điểm được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng được lập giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Q Thi hành án dân sự Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị ngày 31/10/2025.
- Tịch thu, lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB, nhãn hiệu KINGSTON, dung lượng 64 GB. Vật chứng hiện được đính kèm theo hồ sơ vụ án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lê Quang Minh |
Bản án số 39/2025/HSST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 39/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA LÊ VĂN V - K1 Đ173BLHS
