|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2025
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Duôi.
2. Ông Hà Ngọc Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.
Ngày 29/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 222/2025/TLST- HNGĐ ngày 26/6/2025 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/9/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19/9/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/9/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Cà Thị T; Sinh ngày: 20/11/1993; Số căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Bản I, xã N(trước là bản I, xã N, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La; Vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Lường Văn T; Sinh năm: 1987; Số căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Bản I, xã N (trước là bản I, xã N, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2025, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt tại Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Nguyên đơn chị Cà Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lường Văn T kết hôn với nhau từ ngày 10/7/2015 tại UBND xã N, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã N, tỉnh Sơn La) kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối. Sau khi kết hôn chị và anh T chung sống hoà thuận hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Nguyên nhân chính phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, tính tình không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2024 từ đó cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Chị T nhận thấy cuộc hôn nhân này không còn hạnh phúc nên đã viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La giải quyết cho chị được ly hôn anh Lường Văn T.
Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung: Cháu Lường Anh T, sinh ngày 23/11/2017 và cháu Lường Thị D, sinh ngày 22/8/2015. Nay ly hôn do chị T không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu, nguyện vọng của chị T là giao 02 cháu cho anh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu cho đến khi cháu trưởng thành. Chị T không cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Không có.
- - Về tài sản riêng: Không có.
- - Về nợ chung: Không có.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị T không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng. Nguyên đơn chị T đề nghị không tiến hành hòa giải và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến trước khi ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Thụ lý đúng thẩm quyền tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ đúng quy định. Đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, gửi kịp thời các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 97, Điều 195, Điều 196, Điều 198, Điều 203, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa đã thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51, Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Cà Thị T: Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.
- Về sự vắng mặt của bị đơn anh Lường Văn T: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ, niêm yết vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Đề nghị:
- - Về hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị T được ly hôn với anh Lường Văn T.
- - Về con chung: Giao cháu Lường Anh T, sinh ngày 23/11/2017 và cháu Lường Thị D, sinh ngày 22/8/2015 cho anh Lường Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Cà Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Cà Thị T.
- * Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu giải quyết việc ly hôn của nguyên đơn chị Cà Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La), bị đơn có nơi cư trú tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã N, tỉnh Sơn La) nên Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La) thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Cà Thị T: Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.
- Về sự vắng mặt của bị đơn anh Lường Văn T: Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, niêm yết bị đơn vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.
[2]. Về hôn nhân: Chị Cà Thị T và anh Lường Văn T kết hôn với nhau từ ngày 10/7/2015 tại UBND xã N, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã N, tỉnh Sơn La) kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối. Sau khi kết hôn chị T và anh T chung sống hoà thuận hạnh phúc một thời gian thì đến năm 2024 phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Nguyên nhân chính phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, tính tình không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung. Hiện chị T và anh T đã ly thân từ năm 2024 từ đó cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T và chị T giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Tỉnh, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị T ly hôn với anh Tỉnh.
3
[3]. Về con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung: Cháu Lường Anh T, sinh ngày 23/11/2017 và cháu Lường Thị D, sinh ngày 22/8/2015. Nay ly hôn do chị T không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu, nguyện vọng của chị T là giao 02 cháu cho anh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu cho đến khi cháu trưởng thành. Chị không cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T có đề nghị giao cháu 02 cháu cho anh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục do không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu. Trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi giải thích về quyền lựa chọn của các cháu về người trực tiếp nuôi dưỡng, khi được Tòa án hỏi ý kiến, cháu Lường Anh T và cháu Lường Thị D trình bày nguyện vọng muốn ở cùng anh T. Hội đồng xét xử đánh giá nguyện vọng muốn được sống với bố của các cháu là tự nguyện, không bị ai ép buộc, hướng dẫn, đây là chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án. Anh T mặc dù không có mặt tại Toà án để trình bày lời khai, trình bày ý kiến về việc người trực tiếp nuôi con chung, quá trình xác minh tại Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Sơn La hiện nay anh T đang trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu, thường xuyên sinh sống tại bản I, xã N, tỉnh Sơn La, đủ điều kiện để nuôi dưỡng 02 cháu. Như vậy có đủ căn cứ để giao cháu Lường Anh T và cháu Lường Thị D cho anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 02 cháu Lường Anh T và cháu Lường Thị D cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, là hợp tình, hợp lý để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu có những điều kiện cho sự phát triển về thể chất và tinh thần, tâm sinh lý. Sau khi ly hôn chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó căn cứ Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4].Về tài sản chung: Không có.
[5]. Về tài sản riêng: Không có.
[6]. Về nợ chung: Không có.
[7]. Về án phí: Chị Cà Thị T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Cà Thị T.
4
[8]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị T được ly hôn với anh Lường Văn T.
- Về con chung: Xử giao cháu Lường Anh T, sinh ngày 23/11/2017 và cháu Lường Thị D, sinh ngày 22/8/2015 cho anh Lường Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Cà Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Cà Thị T.
- Về quyền kháng cáo: Chị Cà Thị T, anh Lường Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Tiến Hải |
5
6
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung.
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cà Thị T - Lường Văn T
