TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HNGĐ - ST Ngày: 19 - 12 - 2025 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga
Ông Trịnh Xuân Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Đạt
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 207/2025/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Xuân L, sinh năm 1972; địa chỉ: xóm N, xã C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
- Bị đơn: Bà Đoàn Thị C, sinh năm 1973; địa chỉ: xóm N, xã C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đặng Xuân L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và cô Đoàn Thị C sống với nhau từ năm 1994 nhưng đến ngày 20/8/2024 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, nay là xã C, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng từ năm 2014 tôi đi làm ăn xa không thường xuyên ở nhà, mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu từ đó và vài năm trở lại đây mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chúng tôi đã ly thân nhau, tuy vẫn sống chung một nhà nhưng không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục cuộc sống chung tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn cô Đoàn Thị C.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 04 con chung, nhưng hiện tại các con đều đã trưởng thành và có gia đình riêng không đề nghị tòa giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự và tại phiên tòa bà Đoàn Thị C trình bày:
Tôi có chồng là Đặng Xuân L, sinh năm 1972, chúng tôi có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã T, nay là xã C, tỉnh Phú Thọ vào ngày 26/4/1994. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau, đến năm 2003 vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chồng tôi và chị gái tôi có tình cảm qua lại với nhau, tôi có nói chuyện với chồng tôi là tôi không nhất trí qua lại nhà chị gái, từ đó anh lành thường xuyên vắng nhà, vợ chồng không hạnh phúc. Nay chồng tôi làm đơn ra Tòa xin ly hôn với tôi, tôi không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với chồng. Vợ chồng đang giận nhau nên chưa có cơ hội nói chuyện làm lành với nhau mặc dù cuộc sống không có tiếng nói chung nhưng vẫn sống chung một nhà nên mới xảy ra mâu thuẫn.
Về con chung: Chúng tôi có 04 con chung đều đã trưởng thành và có cuộc sống riêng không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng sẽ tự thỏa thuận thống nhất với nhau không đề nghị Tòa án giải quyết.
3. Kết quả xác minh và ý kiến người làm chứng.
- Xác minh tại nơi cư trú của ông Đặng Xuân L và bà Đoàn Thị C tại xóm N, xã C, tỉnh Phú Thọ được T xóm ông Hà Văn C1 cung cấp: Ông Đặng Xuân L và bà Đoàn Thị C là công dân tại xóm N, xã C, tỉnh Phú Thọ, hai vợ chồng có đăng ký kết hôn tại xã T cũ, thời điểm vợ chồng Lành Ca đăng ký kết hôn tôi không nắm được vì đã lâu. Hiện tại ông L và bà C vẫn đang sinh sống tại địa phương và là hàng xóm nhà tôi nên tôi nắm rất rõ điều kiện sinh hoạt cũng như mọi việc của gia đình Lành C2. Hai vợ chồng ông bà Lành C2 thường cuyên xảy ra cãi nhau, chửi nhau và đánh nhau. Chính quyền địa phương, công an xã và hàng xóm láng giềng rất nhiều lần phải đến căn ngăn, hòa giải nhưng vợ chồng Lành C2 không thay đổi vẫn tiếp diễn nhiều năm như vậy. Hai vợ chồng Lành C2 làm lao động tự do thường xuyên đi làm nhưng thỉnh thoảng vẫn về nhà, mỗi lần về nhà hai vợ chồng lại cãi chửi và đánh nhau. Bà C2 là người hay chơi cờ bạc, lô đề nổi tiếng trong xóm ai cũng biết việc này. Tôi thấy chuyện tình cảm vợ chồng Lành Ca rất căng thẳng, thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì tôi nghĩ do vợ chồng đã ly thân từ lâu, mỗi người một công việc nên xay ra ghen tuông vô cơ, bà C2 là người không chịu khó làm ăn, hay chơi cờ bạc và nợ rất nhiều.
- Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1970 là hàng xóm nhà ông bà Lành C2 cho biết: Ông Đặng Xuân L và bà Đoàn Thị C sinh sống ở đây đã lâu. Nhà tôi ở phía đối diện với nhà ông bà Lành C2. Tôi thấy vợ chồng Lành C2 sống ly thân đã lâu, mỗi người đều có công việc riêng và đi làm. Mỗi lần về nhà gặp nhau lại xảy ra chửi bới cãi vã, rất nhiều lần còn xô xát đánh nhau, mới đầu chính quyền địa phương còn đến can ngăn và giải quyết, nhưng về sau sự việc hai vợ chồng cãi chửi và đánh nhau thường xuyên nên không ai muốn đến can ngăn nữa vì bà C2 chửi bới và thách thức cả hàng xóm láng giềng. Tôi thấy ông L là người chăm chỉ, chịu khó làm ăn, còn bà C2 là người hay cờ bạc làm được đồng nào hoặc con cái gửi tiền về cho lại đem đi chơi bạc hết.
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1980 là hàng xóm nhà ông bà Lành C2 cho biết: Ông Đặng Xuân L và bà Đoàn Thị C là vợ chồng, nhà tôi là hàng xóm sát vách, tôi làm nghề lao động tự do buôn bán tại nhà nên thường xuyên chứng kiến mâu thuẫn giữa vợ chồng nhà Lành C2. Nếu hai vợ chồng nhà đó đi làm thì không sao, nhưng mỗi lần về nhà gặp nhau lại xảy ra đánh cãi chửi nhau. Tôi có chứng kiến, sang căn ngăn cùng trưởng xóm và chính quyền địa phương nhiều lần, thậm chí có vài lần bà C2 còn sang nhà tôi kiếm cớ gây sự. Tôi thấy ông L là người chăm chỉ chịu khó làm ăn, còn bà C2 là người hay chơi cờ bạc có tiếng ở đây. Vợ chồng Lành C2 đã sống ly thân từ cách đây rất lâu, tôi nhớ khoảng từ năm 2015 – 2016.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đặng Xuân L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với bà Đoàn Thị C vì không còn tình cảm, bà C chửi bới ông suốt ngày, cuộc sống ngột ngạt bế tắc. Bà C không đồng ý ly hôn với ông L vì ông Đặng Xuân L có người phụ nữ khác nên mới đòi ly hôn với bà, bà không đồng ý ly hôn vì còn phải giữ thể diện cho con cái và thông gia hai bên.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định.
- Về nội dung: Hôn nhân giữa ông Đặng Xuân L và bà Đoàn Thị C là hợp pháp. Xét đến thời điểm ông L khởi kiện ly hôn mẫu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, cho ông L được ly hôn bà C.
Về con chung: Đã trưởng thành không đề nghị giải quyết
Về tài sản chung và công nợ chung: không đề nghị giải quyết nên không đề cập.
Về án phí: Ông L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ông Đặng Xuân L có đơn đề nghị giải quyết ly hôn với bà Đoàn Thị C có hộ khẩu thường trú tại: xóm N, xã C, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đã xác định được phạm vi khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự không có khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tiến hành tố tụng của TAND Khu vực 12 – Phú Thọ nên hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp, tuân thủ quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Xuân L và bà Đoàn Thị C chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/8/2024 tại xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình (nay là xã C, tỉnh Phú Thọ); thời điểm xác nhận quan hệ hôn nhân là ngày 26/4/1994 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Theo phía ông L cho rằng nguyên nhân do từ năm 2014 ông đi làm ăn xa, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn và từ đó đến nay mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng hay đánh cãi chửi nhau, dẫn đến cuộc sống ngột ngạt bế tắc; hiện nay đã không còn tình cảm và không còn quan tâm chăm sóc nhau.
Đối với phía bị đơn bà C cho rằng, thời điểm phát sinh mâu thuẫn là từ năm 2003 do ông L có quan hệ với chị gái của bà và ông L còn có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác, nên ông L thường xuyên vắng nhà dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Mặc dù hiện tại cuộc sống không có tiếng nói chung, hai bên vẫn mâu thuẫn nhưng bà C không đồng ý ly hôn với ông L vì muốn giữ thể diện cho con cái và thông gia.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của ông L và bà C, xác minh hàng xóm sống xung quanh thấy rằng: Hai vợ chồng ông bà Lành C2 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn đánh cãi chửi nhau, đã được chính quyền địa phương và hàng xóm can ngăn, nhưng vẫn không thay đổi, thậm chí bà C2 còn hay chơi cờ bạc dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Mặc dù bà C2 mong muốn đoàn tụ, nhưng không đưa ra các giải pháp hợp lý để khắc phục mâu thuẫn. Tình trạng mâu thuẫn của ông L và C2 được chính quyền địa phương và hàng xóm xung quanh xác định là trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, hơn nữa hai ông bà đã ly thân nhau một thời gian khá dài, trong cuộc sống cả nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận không có tiếng nói chung, dẫn đến cãi nhau thường xuyên. Đến nay ông L xác nhận tình cảm không còn và kiên quyết xin ly hôn với bà C2, đủ cơ sở khẳng định tình trạng hôn nhân giữa ông L và bà C2 đến mức trầm trọng, không thể tiếp tục cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho ông L được ly hôn bà C2 là có căn cứ theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Các con đã trưởng thành không đề nghị giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Ông Đặng Xuân L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Xuân L, xử cho ông Đặng Xuân L được ly hôn với bà Đoàn Thị C.
- Về con chung: Đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết
- Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về án phí: Ông Đặng Xuân L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005427 ngày 17/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú thọ, ông L đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |
Bản án số 39/2025/HNGĐ - ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ về ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn L - C
