Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG


Bản án số: 389/2025/DS-PT

Ngày: 15 - 12 - 2025

V/v “Tranh chấp

hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đăng

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Vân

Ông Nguyễn Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11, 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 345/2025/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 560/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (B). Trụ sở: Tháp B, A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội (nay là Phường H, Thành phố Hà Nội).

Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn: Ông Lý Minh Q - Chức vụ: Phó giám đốc phụ trách Phòng G (nay là Giám đốc Phòng G), Ngân hàng Đ - Chi nhánh Đ1 (Theo Quyết định số 133/UQ-BIDV.ĐAL ngày 14/02/2025).

Bị đơn:

  1. Bà Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Ông Lê Quang T, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lâm Đồng; Địa chỉ liên lạc: Số A T, khu phố E, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Quyết T1, sinh năm 1988; bà Đặng Thị Kim D, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số A thôn V, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Quang T.

2

(Tại phiên tòa có mặt ông Lý Minh Q, ông Lê Quang T; vắng mặt bà Hoàng Thị Thu H, ông Đoàn Quyết T1, bà Đặng Thị Kim D).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông Lý Minh Q là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 02/02/2024, bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T đã ký Hợp đồng tín dụng số 01/2024/22742053/HĐTD để vay tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) số tiền gốc là 3.000.000.000đ; thời hạn vay là 11 tháng; lãi suất trong hạn là 08%/năm; lãi suất quá hạn áp dụng với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Quá trình vay vốn bà H, ông T trả được một phần nợ gốc với số tiền là 2.611.382đ và tiền lãi đến hết ngày 02/01/2025. Hiện tại dư nợ gốc còn lại là 2.997.388.618đ.

Ngày 19/6/2024, bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T đã ký Hợp đồng tín dụng số 02/2024/22742053/HĐTD để vay tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền 150.000.000đ; thời hạn vay là 11 tháng; lãi suất trong hạn là 08%/năm; lãi suất quá hạn áp dụng với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Quá trình vay vốn bà H, ông T đã trả được tiền lãi đến hết ngày 03/02/2025. Hiện tại dư nợ gốc là 150.000.000đ.

Để đảm bảo cho 02 Hợp đồng tín dụng trên thì bà H, ông T có thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 100514 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 23/3/2020, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2024/22742053/HĐBĐ ngày 02/02/2024, được công chứng tại Văn phòng C ngày 02/02/2024, số công chứng 400, quyền số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/02/2024 tại Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Theo hợp đồng tín dụng số 01/2024/22742053/HĐTD thì đến ngày 02/01/2025 bà H, ông T đã đến hạn trả nợ số tiền gốc còn lại là 2.997.388.618đ và lãi cho Ngân hàng. Mặc dù, đã được Ngân hàng nhiều lần đôn đốc, nhắc nhờ về việc trả nợ trễ hạn nhưng bà H, ông T vẫn chưa trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc của cả 02 hợp đồng tín dụng là 3.147.388.618đ và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2025) là 291.058.076đ, tổng cộng cả gốc và lãi là 3.438.446.694đ và bà H, ông T còn phải trả số tiền lãi, phí phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi trả nợ xong toàn bộ nợ cho Ngân hàng; đồng thời, yêu cầu Tòa án tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản được ký kết giữa bà H, ông T với Ngân hàng cho đến khi bà H, ông T thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Ngoài ra Ngân hàng không yêu cầu gì thêm.

3

Tại bản tự khai tại Tòa án bị đơn bà Hoàng Thị Thu H trình bày: Ngày 02/02/2024 vợ chồng bà có ký Hợp đồng tín dụng số 01/2024/22742053/HĐTD để vay của Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền là 3.0000.000.000đ; thời hạn vay 11 tháng; lãi suất 08%/năm; lãi quá hạn 150%/ lãi suất trong hạn. Ngày 19/6/2024, vợ chồng bà có ký Hợp đồng tín dụng số 02/2024/22742053/HĐTD để vay của Ngân hàng TMCP Đ - Chi Nhánh Đ1 số tiền là 150 000 000đ; thời hạn vay là 11 tháng; lãi suất trong hạn 08%/năm; lãi suất quá hạn 150%/lãi suất trong hạn. Tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 100514 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 23/3/2020. Quá trình vay vợ chồng bà có trả được một ít tiền lãi và gốc cho Ngân hàng, còn trả số tiền cụ thể bao nhiêu thì bà không nhớ. Do hoàn cảnh khó khăn không trang trải được khoản vay của Ngân hàng bà mong muốn được Ngân hàng G1 thêm thời gian để bán nhà thanh lý khoản vay của Ngân hàng chấm dứt Hợp đồng tín dụng. Đồng thời, bà H có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Theo đơn trình bày ý kiến ngày 10/6/2025 và tại phiên tòa ông Lê Quang T trình bày: Ngày 02/02/2024 vợ chồng ông có ký hợp đồng tín dụng để vay vốn của Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền là 3.000.000.000đ và ngày 19/6/2024 vợ chồng ông có ký hợp đồng tín dụng để vay vốn của Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền là 150.000.000đ. Tài sản thế chấp là diện tích đất 300m² thuộc thửa 17A, tờ bản đồ quy hoạch khu tái định cư cụm công nghiệp Đinh Văn . Quá trình vay vốn do làm ăn khó khăn nên chưa có tiền trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo đúng hợp đồng đã ký kết. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông trả nợ gốc và lãi thì ông đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông đến tháng 12 năm 2025 thu xếp trả nợ và đề nghị Ngân hàng giảm bớt lãi cho ông. Ngoài ra ông T không trình bày gì thêm.

Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vợ chồng ông Đoàn Quyết T1, bà Đặng Thị Kim D trình bày: Ngày 15/4/2025, vợ chồng ông bà có thuê nhà của ông Lê Quang T và bà Hoàng Thị Thu H tại địa chỉ A khu tái định cư thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Khi thuê vợ chồng ông bà trực tiếp ký hợp đồng với ông T, thỏa thuận thời hạn thuê là 01 năm; thời hạn thuê tính từ ngày 15/4/2025. Giá thuê mỗi tháng là 4.000.000đ trả tiền 03 tháng một lần và cọc tiền thuê 01 tháng. Vợ chồng ông bà đã trả tiền cọc và thanh toán 03 tháng tiền nhà cho ông T. Hiện nay vợ chồng ông bà đang ở nhà này. Do nhà đất vợ chồng ông T, bà H đang thế chấp vay vốn Ngân hàng không trả được nợ nên Ngân hàng đang khởi kiện yêu cầu trả nợ vay và duy trì hợp đồng thế chấp là nhà đất thì vợ chồng ông bà xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì trong vụ án này mà để vợ chồng ông bà tự thỏa thuận với ông T, bà H về hợp đồng thuê nhà. Việc Ngân hàng khởi kiện bà H, ông T thì vợ chồng ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Đồng thời, ông T1, bà D có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

4

39; các Điều 147; 157; 227, 228; 235 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 317, 318, 320, 322 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 99, Điều 100 và Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024; Căn cứ khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn bà Hoàng Thị Thu H, bị đơn ông Lê Quang T.
  2. Buộc bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền gốc của 02 Hợp đồng tín dụng là 3.147.388.618đ; tiền lãi là 291.058.076đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 3.438.446.694đ. Chia phần cụ thể như sau:

    Bà Hoàng Thị Thu H phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền nợ gốc của 02 Hợp đồng tín dụng là 1.573.694.309đ, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2025) là 145.529.038đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 1.719.223.347đ (một tỷ, bảy trăm mười chín triệu, hai trăm hai mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi bảy đồng). Ông Lê Quang T phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền nợ gốc của 02 Hợp đồng tín dụng là 1.573.694.309đ, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2025) là 145.529.038đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 1.719.223.347đ (một tỷ, bảy trăm mười chín triệu, hai trăm hai mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi bảy đồng); đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng số 01/2024/ 22742053/HĐTD ngày 02/02/2024 và Hợp đồng tín dụng số 02/2024/22742053/HĐTD ngày 19/6/2025 cho đến khi bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T trả xong nợ cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1.

  3. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2024/22742053/HĐBĐ ngày 02/02/2024; được công chứng tại Văn phòng C ngày 02/02/2024, số công chứng 400, quyền số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/02/2024 tại Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Lâm Đồng đối với diện tích đất 300m² thuộc thửa 17A, tờ bản đồ quy hoạch khu tái định cư cụm công nghiệp Đinh V; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 100514 do UBND huyện L cấp ngày 23/3/2020 cho bà Nguyễn Thị Bích T2; đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L điều chỉnh sang tên chủ sử dụng đất cho bà Hoàng Thị Thu H ngày 10/6/2020 cho đến khi bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T trả xong nợ cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1.

5

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01 tháng 10 năm 2025, bị đơn ông Lê Quang T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng ông Lê Quang T chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc cho Ngân hàng, xem xét giảm hoặc miễn phần lãi suất, giảm án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Lê Quang T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Về nội dung: Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh tụng, nhận thấy: Về nợ gốc, khoản vay 3.000.000.000₫ ông Tú bà H đã trả được một phần nợ gốc 2.611.382đ, trả lãi đến ngày 02/01/2025, sau đó để nợ quá hạn kể từ ngày 03/01/2025. Khoản vay 150.000.000₫ trả lãi đến ngày 03/02/2025, chưa trả tiền gốc. Việc ông Tú bà H1 không thực hiện nghĩa vụ cam kết để nợ gốc, lãi quá hạn và không đồng ý bàn giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng để xử lý thu hồi nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Tú bà H1 phải có nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc của 02 Hợp đồng tín dụng tổng cộng 3.147.388.618đ là có cơ sở.

Về nợ lãi: Tại Bảng kê chi tiết khoản vay ngày 16/9/2025, Ngân hàng xác định lãi tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2025), gồm lãi trong hạn, lãi phạt gốc, lãi phạt lãi, cách tính này không đúng với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, cụ thể: khoản vay 3.000.000.000đ hết hạn ngày 02/01/2025; khoản vay 150.000.000đ hết hạn ngày 19/5/2025 thì chỉ sau thời điểm hết hạn mới phát sinh nghĩa vụ trả lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả, việc Ngân hàng tính lãi phạt trong suốt thời gian trước khi các khoản vay đến hạn là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định toàn bộ số tiền lãi 291.058.076đ (gồm 281.423.343đ và 9.634.733đ) là phù hợp, đồng thời chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng mà không đánh giá đầy đủ quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ là thiếu khách quan và chưa xem xét toàn diện chứng cứ. Vì vậy, chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với nợ gốc 3.147.388.618đ, còn khoản lãi 291.058.076đ không có cơ sở chấp nhận, cần xác định lại tiền lãi để đảm bảo tính chính xác, đúng quy định pháp luật.

(1) Về khoản vay 3.000.000.000đ, ông Tú bà H1 đã trả một phần tiền gốc 2.611.382đ và lãi đúng thỏa thuận đến 02/01/2025 (ngày hết hạn hợp đồng). Sau đó không thanh toán nợ gốc nên khoản vay chuyển sang quá hạn từ 03/01/2025.

6

Theo hợp đồng, ông Tú bà H1 chỉ phải chịu lãi nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đối với phần dư nợ quá hạn, tương ứng thời gian từ 03/01/2025 đến 16/9/2025 là 252.388.886đ.

(2) Về khoản vay 150.000.000đ, ông Tú bà H1 đã trả lãi đến ngày 03/02/2025 sau đó không thanh toán. Theo thỏa thuận cần xác định:

  • Lãi trong hạn (04/02/2025 – 19/5/2025): 3.452.055đ
  • Lãi nợ gốc quá hạn (20/5/2025 – 16/9/2025): 5.917.808đ
  • Lãi phạt chậm trả (20/5/2025 – 16/9/2025): 113.515đ

Do vậy, có căn cứ chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông T. Tổng cộng số tiền lãi ông Tú bà H1 phải trả cho Ngân hàng: (1) + (2) là 261.872.264đ, không phải 291.058.076đ như cấp sơ thẩm xác định.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng tiền lãi ông Tú bà H1 phải chịu, do đó cần sửa phần án phí sơ thẩm cụ thể: Ông Tú bà H1 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ phải thực hiện là 50.092.500đ. Đối với phần yêu cầu của Ngân hàng không được chấp nhận là 29.185.812đ, Ngân hàng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng là 1.459.000đ.

Về kháng cáo chỉ một mình ông T chịu trách nhiệm trả nợ: Nhận thấy 02 khoản vay của ông Tú bà H1 được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, mục đích vay để đầu tư chăn nuôi là hoạt động kinh tế phục vụ đời sống gia đình. Căn cứ khoản 2 Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân & Gia đình đây là nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm, việc ông Tú bà H1 ly hôn sau khi vay vốn không làm thay đổi nghĩa vụ trả nợ phát sinh trước đó. Bản án Hôn nhân gia đình số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 21/4/2025 của TAND huyện Lâm Hà đương sự không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không phân chia tài sản chung, nợ chung của ông Tú bà H1, hiện bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hơn nữa tại phiên tòa Ngân hàng không đồng ý để ông T nhận trách nhiệm trả toàn bộ số nợ cho Ngân hàng nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Tú bà H1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ khoản nợ gốc vay và lãi cho Ngân hàng mỗi người ½ là phù hợp, do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu trên của ông T.

Với các sai sót trên không ảnh hưởng đến toàn bộ việc giải quyết vụ án, hồ sơ vụ án có đủ căn cứ cấp phúc thẩm xem xét, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Lê Quang T, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng xác định tổng số tiền nợ gốc, lãi ông Tú bà H1 phải trả, đồng thời xác định lại nghĩa vụ trả nợ và án phí cho phù hợp. Vì vậy, đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự:

Chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị đơn ông Lê Quang T. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng về chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ:

Buộc ông Tú bà H1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 3.409.260.882đ của 02 hợp đồng tín dụng (trong đó: gốc 3.147.388.618đ và lãi 261.872.264đ).

7

Ông Tú bà H1 mỗi người đều phải trả gốc và lãi của 02 hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử là 1.704.630.441đ; Đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà H1 ông T còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng cho đến khi bà H1 ông T trả xong nợ cho Ngân hàng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Tú bà H1 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ phải thực hiện là 50.092.500đ.

Ngân hàng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận về 29.185.812đ tiền lãi tương ứng là 1.459.000đ. Hoàn trả lại cho Ngân hàng 46.639.000đ tạm ứng án phí đã nộp.

Về án phí phúc thẩm: Đề nghị giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Bị đơn ông Lê Quang T kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà Hoàng Thị Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Quyết T1, bà Đặng Thị Kim D có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Quang T yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận cho ông Lê Quang T chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc cho Ngân hàng, xem xét tính lại lãi suất vay để giảm hoặc miễn phần lãi, phí phạt, giảm án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm; Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] Về số tiền nợ gốc, tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng:

Vào ngày 02/02/2024, giữa Ngân hàng TMCP Đ- Chi nhánh Đ1 với ông Lê Quang T, bà Hoàng Thị Thu H ký Hợp đồng tín dụng số 01/2024/22742053/HĐTD, Ngân hàng đã giải ngân cho bà H, ông T vay số tiền 3.0000.000.000đ, thời hạn vay 11 tháng, lãi suất 08%/năm, lãi quá hạn 150%/ lãi suất trong hạn, trả lãi định kỳ hàng tháng vào ngày 02 kỳ đầu tiên bắt đầu vào ngày 02/3/2024, ngày đáo hạn vào ngày 02/01/2025.

Ngày 19/6/2024, giữa Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 với ông Lê Quang T, bà Hoàng Thị Thu H tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 02/2024/22742053/HĐTD, Ngân hàng đã giải ngân cho bà H, ông T vay số tiền 150.000.000đ, thời hạn vay; lãi suất; lãi suất quá hạn như trên, trả lãi định kỳ hàng tháng vào ngày 02 kỳ đầu tiên bắt đầu vào ngày 02/7/2024, ngày đáo hạn ngày 19/5/2025

8

Với 02 hợp đồng tín dụng trên Ngân hàng đã giải ngân cho bà H, ông T vay với tổng số tiền 3.150.000.000đ.

Trong thời gian vay vốn, khoản vay 3.000.000.000₫ bà H, ông T đã trả được tiền gốc 2.611.382đ; tiền lãi đến ngày 02/01/2025, sau đó để nợ quá hạn. Khoản vay 150.000.000₫ bà H, ông T đã trả lãi cho Ngân hàng đến ngày 03/02/2025.

[4.2] Tại điểm d mục 6, điểm a mục 7 của Hợp đồng tín dụng thể hiện:

  • “Ngày giải ngân (rút vốn vay): 02/02/2024; Ngày đáo hạn: 02/01/2025”;
  • “Lịch trả nợ gốc: Khách hàng có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ gốc của khoản vay vào ngày đáo hạn của Hợp đồng này”;

Tại khoản 1, 4, 5, 7 Điều 4, khoản 4 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 9 của Bản Điều khoản và Điều kiện vay thể hiện:

  • “Phương thức tính lãi tiền vay (áp dụng cho cả việc tính lãi quá hạn): Tiền lãi được tính trên số dư nợ vay nhân (x) với số ngày duy trì nợ vay thực tế nhân (x) với lãi suất năm chia (:) 365;
  • “Trường hợp khách hàng không thanh toán đúng hạn nợ gốc và không được Ngân hàng gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc thời gian gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ đã kết thúc thì Ngân hàng được quyền chuyển số dư nợ gốc đó sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn quy định tại khoản 6 Điều này kể từ thời điểm dư nợ gốc bị chuyển nợ quá hạn”.
  • “Trường hợp Ngân hàng chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn theo khoản 4 Điều 8..., Ngân hàng có quyền chuyển toàn bộ số dư nợ gốc còn lại mà khách hàng không trả được nợ trước hạn sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn quy định tại khoản 6 Điều này kể từ thời điểm dư nợ gốc bị chuyển quá hạn”.
  • “Đối với tiền lãi không trả đúng hạn, khách hàng phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất (10%)/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”.
  • “Ngân hàng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn tất cả các khoản cấp tín dụng chưa thanh toán, chuyển toàn bộ khoản vay của khách hàng sang nợ quá hạn...khi xảy ra một trong các sự kiện vi phạm theo quy định tại Điều 9 bản Điều khoản và điều kiện vay này”.
  • “Khách hàng được coi là vi phạm Hợp đồng tín dụng trong các trường hợp sau: Khách hàng vi phạm bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi...”.

Qua đó thấy rằng, theo bản kê chi tiết tính lãi của Ngân hàng trên số dư nợ gốc 3.000.000.000 đồng tính từ ngày 02/01/2025, và 150.000.000 đồng tính từ ngày 03/02/2025 đến ngày xét xử (16/9/2025) là có căn cứ.

Việc bà H ông T vay tiền nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo Hợp đồng tín dụng, Bản Điều khoản và Điều kiện vay là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử buộc bà H, ông T phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền gốc của cả hai hợp đồng

9

tín dụng 3.147.388.618đ và tiền lãi phát sinh từ khoản vay của hai hợp đồng 291.058.076₫ là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4.3] Hai khoản vay nêu trên của ông T, bà H được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, vay mục đích đầu tư chăn nuôi là hoạt động kinh tế phục vụ đời sống gia đình. Theo khoản 2 Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân & Gia đình, đây là nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm. Ngoài ra, ông T xin chịu trách nhiệm trả toàn bộ số nợ gốc cho Ngân hàng nhưng không được phía Ngân hàng đồng ý. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà H, ông T phải có nghĩa vụ liên đới trả khoản tiền nợ gốc vay, lãi cho Ngân hàng là phù hợp.

[4.4] Việc ông T yêu cầu xem xét giảm án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm là không có cơ sở chấp nhận.

[4.5] Từ những phân tích trên, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ông Lê Quang T không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Quang T, không chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Do kháng cáo của ông Lê Quang T không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[6] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Quang T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng.

Căn cứ:

Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 148, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 317, 318, 320, 322, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 99, Điều 100 và Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;

Khoản 2 Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn bà Hoàng Thị Thu H, bị đơn ông Lê Quang T.

10

  1. [2.1] Buộc bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền gốc của 02 Hợp đồng tín dụng là 3.147.388.618đ; tiền lãi là 291.058.076đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 3.438.446.694đ. Chia phần cụ thể như sau:

    Bà Hoàng Thị Thu H phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền nợ gốc của 02 Hợp đồng tín dụng là 1.573.694.309đ, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2025) là 145.529.038đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 1.719.223.347đ (một tỷ, bảy trăm mười chín triệu, hai trăm hai mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi bảy đồng). Ông Lê Quang T phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 số tiền nợ gốc của 02 Hợp đồng tín dụng là 1.573.694.309đ, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2025) là 145.529.038đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 1.719.223.347đ (một tỷ, bảy trăm mười chín triệu, hai trăm hai mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi bảy đồng); đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng số 01/2024/ 22742053/HĐTD ngày 02/02/2024 và Hợp đồng tín dụng số 02/2024/22742053/HĐTD ngày 19/6/2025 cho đến khi bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T trả xong nợ cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1.

  2. [2.2] Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2024/22742053/HĐBĐ ngày 02/02/2024; được công chứng tại Văn phòng C ngày 02/02/2024, số công chứng 400, quyền số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/02/2024 tại Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Lâm Đồng đối với diện tích đất 300m² thuộc thửa 17A, tờ bản đồ quy hoạch khu tái định cư cụm công nghiệp Đinh V; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 100514 do UBND huyện L cấp ngày 23/3/2020 cho bà Nguyễn Thị Bích T2; đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L điều chỉnh sang tên chủ sử dụng đất cho bà Hoàng Thị Thu H ngày 10/6/2020 cho đến khi bà Hoàng Thị Thu H, ông Lê Quang T trả xong nợ cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1.
  3. [3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Quang T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004686 ngày 10/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lâm Đồng. Ông T đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
  4. [4] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. [5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

11

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND khu vực 3 – Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 3 – Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS vụ án, Tòa DS, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Bùi Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 389/2025/DS-PT ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 389/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ kiện Hoàng Thị Thu H, Lê Quang T về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger