|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2025 V/v xin ly hôn. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Vân |
| Các hội thẩm nhân dân: | Ông Lê Bá Chu |
| Ông Lê Văn Tư | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Võ Thị Phương Thu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. |
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/8/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 228/QĐ-PT ngày 05/9/2025; Thông báo mở lại phiên tòa số 900/TB-PT ngày 11/9/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệu H, sinh năm 1985
Địa chỉ: B C, B, Australia.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, (nay là xã Đ), tỉnh Lâm Đồng.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 26/11/2024 nguyên đơn bà Trần Thị Diệu H trình bày:
Bà và ông H1 đăng ký kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ ngày 14/10/2008; số 141/2008; quyển số 01/2007 (bản chính giấy đăng ký kết hôn đã bị thất lạc nên bà nộp bản sao giấy chứng nhận kết hôn). Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Quá trình sống chung hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung về mọi vấn đề trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn. Đến năm 2018 thì bà sang nước ngoài làm ăn và sinh sống nên vợ chồng đã tự chấm dứt mọi quan hệ không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên bà xin được ly hôn.
Về con chung: Có 3 con chung tên Nguyễn Doanh Khả D, sinh ngày 27/11/2008; Nguyễn Doanh Khánh B, sinh ngày 20/12/2010; Nguyễn Hữu B1, sinh ngày 04/4/2016. Ly hôn, bà xin được nuôi 03 con chung cho đến ngày trưởng thành; bà không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung; không có nên không yêu cầu giải quyết.
Nghĩa vụ trả nợ: không có.
Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho ông Nguyễn Hữu H1 theo địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp nhưng ông Nguyễn Hữu H1 không có văn bản trình bày ý kiến nên không có lời trình bày của ông H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Diệu H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Hữu H1. Bà Trần Thị Diệu H hiện đang cư trú tại địa chỉ: B C, B, Australia. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đang định cư tại Úc, bị đơn đang cư trú Thôn D, xã Đ, huyện Đ, (nay là xã Đ), tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Diệu H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Hữu H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị Diệu H và ông Nguyễn Hữu H1 theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị Diệu H và ông Nguyễn Hữu H1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 141/2008, quyển số 1/2007, ngày 14/10/2008. Hôn nhân do hai bên tự nguyện. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định.
Quá trình sống chung theo lời trình bày của bà H thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng tính cách, lối sống dẫn đến mâu thuẫn, đến năm 2018 bà sang nước ngoài sinh sống tại Australia nên vợ chồng đã tự chấm dứt mọi quan hệ không còn quan tâm đến nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng hàn gắn nên xin được ly hôn. Ông H1 đã được triệu tập hợp lệ đến tòa để trình bày ý kiến nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của bà H xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã xảy ra trong thời gian dài, vợ chồng mạnh ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Diệu H, cho bà Trần Thị Diệu H và ông Nguyễn Hữu H1 được ly hôn.
[2.2] Về con chung: Bà H trình bày có 03 con chung Nguyễn Doanh Khả D, sinh ngày 27/11/2008; Nguyễn Doanh Khánh B, sinh ngày 20/12/2010; Nguyễn Hữu B1, sinh ngày 04/4/2016. Ly hôn, bà H yêu cầu được nuôi 03 con chung cho đến ngày trưởng thành. Xét, nguyện vọng được nuôi con chung của bà H là chính đáng, các con chung của bà H là Nguyễn Doanh Khả D, Nguyễn Doanh Khánh B, Nguyễn Hữu B1 đều đã trên 7 tuổi có nguyện vọng được ở với mẹ (bà H) nên cần giao 03 con chung cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[2.3] Tài sản chung: Bà H trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu ông H1 có yêu cầu thì được giải quyết bằng vụ án khác sau ly hôn.
[2.4] Nghĩa vụ trả nợ: Bà H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Diệu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Diệu H. Cho bà Trần Thị Diệu H và ông Nguyễn Hữu H1 được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Doanh Khả D, sinh ngày 27/11/2008; Nguyễn Doanh Khánh B, sinh ngày 20/12/2010; Nguyễn Hữu B1, sinh ngày 04/4/2016 cho bà Trần Thị Diệu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Bà Trần Thị Diệu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009146 ngày 26/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà H đã nộp đủ án phí.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày ông Nguyễn Hữu H1 nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ông Nguyễn Hữu H1 có quyền kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bà Trần Thị Diệu H được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định./.
| Các Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Nguyễn Cẩm Nhung – Phùng Thị Hoài Phương | Lê Thị Vân |
Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
