Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 370/2025/HNGĐ - ST

Ngày 27/9/2025

“V/v: Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thịnh Quang Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Vĩ

2. Ông Dương Văn Xuyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 197/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc O. Sinh ngày 17/12/1990. Nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Nay là Thôn X, xã S, thành phố Hà Nội. CCCD số: [...].

2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Đại T. Sinh ngày 04/10/1985. Nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Nay là Thôn X, xã S, thành phố Hà Nội. CCCD số: [...].

Có mặt: Chị O, anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/7/2025 và các lời khai theo nguyên đơn là chị Phạm Ngọc O trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đại T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, thành phố Hà Nội vào ngày 03/4/2012 là tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Cuộc sống chung vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm. Gia đình nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Chị không nhờ chính quyền địa phương hòa giải mâu thuẫn vợ chồng. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn anh Nguyễn Đại T để ổn định cuộc sống riêng.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Đại T sinh được 03 con chung là: Nguyễn Đức H, sinh ngày 12/5/2012, Nguyễn Hà P, sinh ngày 20/01/2014 và Nguyễn Thùy C, sinh ngày 15/4/2020. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Đức H, Nguyễn Hà P, anh T trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thùy C. Chị đang nhân viên y tế của Trạm y tế xã Đ, thành phố Hà Nội, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng và bán hàng tạp hóa, thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Nguyễn Đại T có lời khai như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đại T có lời khai thống nhất với chị G về thời gian, nơi kết hôn, địa điểm chung sống của vợ chồng. Về nguyên nhân mâu thuẫn: Quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Anh có phát hiện chị O có quan hệ tình cảm với người khác, nhưng anh cũng đã tha thứ để vợ chồng có thể cùng nhau chăm sóc các con. Tuy nhiên chị O không thay đổi. Chị O luôn gây áp lực về tinh thần cho anh, dẫn đến vợ chồng có lúc to tiếng với nhau. Vợ chồng đã ly thân từ khoảng đầu năm 2025 đến nay. Tôi có nguyện vọng nếu chị O thay đổi, quay về đoàn tụ thì anh vẫn chấp nhận. Trường hợp chị O kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý theo nguyện vọng của chị O.

- Về con chung: Anh xác nhận có 03 con chung với chị Phạm Ngọc O là: Nguyễn Đức H, sinh ngày 12/5/2012, Nguyễn Hà P, sinh ngày 20/01/2014 và Nguyễn Thùy C, sinh ngày 15/4/2020. Về nuôi con chung khi ly hôn: Ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 03 con chung. Anh đang làm tự do, cụ thể công việc là nhận sơn các công trình, thu nhập khoảng 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/tháng. Do làm việc tự do và tự đứng ra nhận công trình nên anh không có hợp đồng lao động.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Chị Phạm Ngọc O giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Đại T, yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Đức H, Nguyễn Hà P và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp. Đối với cháu H, anh T xác định không phải là con chung mà là con riêng của chị, chị không ý kiến gì và chị không yêu cầu giám định.

- Anh Nguyễn Đại T đồng ý ly hôn chị Phạm Ngọc O, yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 03 con chung và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp. Anh Nguyễn Đại T có lời khai cho rằng cháu Nguyễn Đức H là con riêng của chị Phạm Ngọc O nhưng anh không yêu cầu giám định ADN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Kể từ ngày nhận đơn, thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 147, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị HĐXX:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Ngọc O và anh Nguyễn Đại T.
  • - Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Đức H, Nguyễn Hà P cho chị Phạm Ngọc O trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung là Nguyễn Thùy C cho anh Nguyễn Đại T trực tiếp nuôi dưỡng.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Bị đơn là anh Nguyễn Đại T đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội cũ, nay là thôn X, xã S, thành phố Hà Nội. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc O và anh Nguyễn Đại T đăng ký kết hôn ngày 03/4/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung và đã ly thân từ khoảng đầu năm 2025. Tại phiên toà chị oanh xin ly hôn anh T, anh T đồng ý ly hôn. Xét thấy, chị O, anh T thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện không ai gò ép hay ép buộc. Do đó, ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị O và anh T.

[2.2] Về con chung: Chị Phạm Ngọc O và anh Nguyễn Đại T sinh được 03 con chung là: Nguyễn Đức H, sinh ngày 12/5/2012, Nguyễn Hà P, sinh ngày 20/01/2014 và Nguyễn Thùy C, sinh ngày 15/4/2020. Ly hôn chị O có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu H, cháu P. Anh T có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 3 con chung.

Đối với việc anh T cho rằng cháu H là con riêng của chị oanh, không phải là con cảu anh. Chị O không có ý kiến gì. Hội đồng đã xét xử đã giải thích cho chị O, anh T nhưng chị O, anh T nhưng T, chị O đều không yêu cầu giámd dịnh ADN để xác định con chung riêng. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn xác định cháu H là con chung của chị O và anh T.

Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị Phạm Ngọc O và anh Nguyễn Đại T đều là hợp pháp. Chị O và anh T đều có chỗ ở, thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi con chung. Cháu H, cháu P đang ở với chị O và có nguyện vọng ở với mẹ. Cháu C đang ở với anh T. Để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần cho con chung của anh chị. Hội đồng xét xử xét thấy thấy cần giao cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Đức H, cháu Nguyễn Hà P và giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Thùy C là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị O, anh T không yêu cầu giải quyết và anh chị đều được giao nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị O và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị O phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • - Các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Khoản 7 Điều 28; Điều 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Ngọc O và anh Nguyễn Đại T.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Đức H, sinh ngày 12/5/2012, Nguyễn Hà P, sinh ngày 20/01/2014 cho chị Phạm Ngọc O trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung là Nguyễn Thùy C, sinh ngày 15/4/2020 cho anh Nguyễn Đại T trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi các con chung của anh chị thành niên hoặc có quyết định khác của Tòa án.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phạm Ngọc O được ly hôn anh Nguyễn Đại T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Phạm Ngọc O và anh Nguyễn Đại T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phạm Ngọc O được ly hôn anh Nguyễn Đại T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Phạm Ngọc O phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004324 ngày 14/8/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Chị Phạm Ngọc O đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Án xử công khai sơ thẩm, chị Phạm Ngọc O và anh Nguyễn Đại T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND.KV7-HN;
  • - THADS.TP HN;
  • - UBND xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội cũ, nay là UBND xã Sóc Sơn. Giấy chứng nhận kết hôn số 56 ngày 03/4/2012.
  • - Lu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 370/2025/HNGĐ - ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 370/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly hôn, giải quyết về con chung và các vấn đề khác có liên quan
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger