Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - X

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 19 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH X

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Minh Đón;
  2. Ông Đỗ Xuân Chúc.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Thuận - Thư ký viên chính Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, tỉnh X tham gia phiên toà:

Ông Vương Quang Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 2 X mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2025/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025, đối với:

1. Bị cáo: Lù Xuân D, sinh ngày 28/8/1992; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Thôn P, xã N, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ở hiện tại: Thôn M, xã N, tỉnh X; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lù Duyền S, sinh năm 1947 (Đã chết) và bà Thào Thị D1, sinh năm 1957; Vợ: Ly Thị C, sinh năm 1989; có 03 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/12/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử 05 năm tù về tội Mua bán người, chấp hành xong hình phạt ngày 26/4/2015.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vương Thị Thanh N – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; Có mặt

2. Những người làm chứng:

  • 2.1 Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1955. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn M, xã N, tỉnh X.
  • 2.2 Bà Vũ Thị T, sinh năm 1977. (vắng mặt)
  • 2.3 Ông Vũ Hữu T1, sinh năm 1978. (vắng mặt)
  • Đều địa chỉ: Tổ dân phố P, phường Đ, tỉnh X.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lù Xuân D sinh năm 1992 ở thôn P, xã N, tỉnh Tuyên Quang (chỗ ở hiện nay thôn M, xã N, tỉnh X) là đối tượng nghiện chất ma túy, loại Heroine.

D tự khai: Sáng ngày 25/7/2025, D đang ở phòng trọ tại thôn M, xã N, tỉnh X thì có một người tên H (không biết họ, tên, địa chỉ) quen biết một vài ngày trước, người này rủ D đi bốc vác tại khu vực Phố N, phường M, tỉnh X thì D đồng ý. Sau đó, D và H đi bộ ra bắt xe ô tô chở khách (không nhớ biển số, hãng xe) để đi đến khu vực phường M, tỉnh X. Khi đang ở trên xe ô tô thì H đưa cho D 02 gói giấy màu trắng được bọc bên ngoài bằng nilon bảo D cất đi lát nữa sử dụng. D biết rõ 02 gói giấy trên chứa ma túy loại Heroine nên đã cất giấu vào túi quần phía trước bên phải.

Đến khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, D và H xuống xe đi vào quán phở tại số C đường N thuộc tổ dân phố P, phường Đ, tỉnh X của chị Vũ Thị T sinh năm 1977 (ở xóm A, xã N, tỉnh Ninh Bình) ăn sáng. Sau khi ăn sáng xong, D đang ngồi uống nước thì bị Công an phường Đ phát hiện bắt quả tang, còn người thanh niên tên H khi thấy lực lượng công an đã bỏ chạy mất. Vật chứng thu giữ: T2 tại túi quần phía trước bên phải của D 02 gói giấy màu trắng được bọc bên ngoài bằng nilon, bên trong 02 gói giấy đều có chứa chất màu trắng dạng cục, bột được niêm phong ký hiệu M.

Ngày 25/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lù Xuân D tại phòng trọ thuê của bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1955 ở thôn M, xã N, tỉnh X. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu Lù Xuân D dương tính với ma túy, loại Heroin.

Quá trình điều tra xác định: Lù Xuân D không thuộc diện quản lý về người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện và không trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế tại địa phương theo quy định của Luật phòng chống ma túy.

Biên bản rà soát, kiểm tra camera xung quanh nơi Lù Xuân D bị bắt quả tang ngày 25/7/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H thể hiện: Không phát hiện có hệ thống camera an ninh nào có hướng chiếu vào vị trí xảy ra vụ việc, tại số nhà C đường N cũng không có mắt camera nào.

Bản thông báo kết luận giám định số 639/KL-KTHS ngày 25/7/2025 và bản Kết luận giám định số 639/KL-KTHS ngày 28/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong có khối lượng là: 0,230g (không phẩy hai ba không gam) là ma tuý, loại Heroine (H) có

tên hoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. H1 lại mẫu giám định bên trong có 0,221g Heroine được niêm phong giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H quản lý.

Quá trình điều tra Lù Xuân D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, D còn khai nhận sáng ngày 24/7/2025, D sử dụng ma túy một mình ở bụi cây thuộc xã N, tỉnh X.

Cáo trạng số 05/CT-VKSKV2-HY ngày 30/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 truy tố bị cáo Lù Xuân D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lù Xuân D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 X trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: Bị cáo Lù Xuân D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025. Xử phạt bị cáo Lù Xuân D từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2025. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn có quan điểm về vật chứng và án phí.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật, để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người làm chứng.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 25/7/2025, tại số nhà C đường N thuộc tổ dân phố P, phường Đ, tỉnh X, Lù Xuân D tàng trữ trái phép trong người 0, 230 gam ma tuý, loại Heroine để sử dụng thì bị Công an phường Đ phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi và khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 nên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 X truy tố bị cáo về hành vi và tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo là người đã từng bị kết án về tội Mua bán người, bị cáo không lấy đó làm bài học nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật do đó cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp và các vấn đề khác:

Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 639/KL-KTHS, trong có 0,221g ma túy, loại Heroine, trong niêm phong ghi ký hiệu M, mảnh nilon và các mảnh giấy gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với người đàn ông tên H mà D khai đưa ma tuý cho D, quá trình điều tra ngoài lời khai của D không còn tài liệu, chứng cứ gì khác nên chưa có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của D vào sáng ngày 24/7/2025 tại xã N, tỉnh X, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H có công văn trao đổi thống nhất, đến ngày 13/10/2025 Công an phường Đ, tỉnh X đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D.

[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Lù Xuân D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  3. Xử phạt: Bị cáo Lù Xuân D 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2025.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 639/KL-KTHS, trong có 0,221g ma túy, loại Heroine, trong niêm phong ghi ký hiệu M, mảnh nilon và các mảnh giấy gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

    Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao vật chứng ngày 31/10/2025 giữa Công an tỉnh H và Phòng THA Khu vực 2 X.

  5. Về án phí: Miễn án phí HSST cho bị cáo Lù Xuân D.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh X;
  • - CA tỉnh X;
  • - VKS Khu vực 2;
  • - Phòng THA Khu vực 2;
  • - Trại tạm giam số 1 - CA tỉnh X;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhiên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH X về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH X
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lù Xuân Dương - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger