|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HSST Ngày: 28/10/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ, bà Ngô Thuỳ Phương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND Khu vực 8 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS ngày 15/10/2025, đối với:
- Bị cáo:
1. Vi Văn P, sinh năm 2000.
HKTT: Thôn B, xã C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông Vi Văn H và bà Hứa Thị T; Vợ: Đinh Kim T1 và 02 con, con lớn sinh năm 217, con nhỏ sinh năm 2023;
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
- Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2025. (Có mặt tại phiên tòa)
2. Nông Quốc H1, sinh năm 1982.
HKTT: Thôn N, xã T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông Nông Xuân K và bà Nông Thị T2; Vợ: Nông Thị T3, sinh năm 1983 và có 01 con, sinh năm 2008;
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
- Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2025. (Có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo P: Ông Nguyễn Văn H2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ ngày 01/8/2025, tại khu vực đường G thuộc khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường P, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Vi Văn P có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nông Quốc H1. Thu giữ tại lòng bàn tay trái của H1 01 gói giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng, H1 khai nhận đây là số ma túy vừa mua được của P. Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải P đang mặc số tiền 200.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, P khai nhận đây là số tiền vừa bán ma túy cho H1. Quá trình bắt giữ, P tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 16 promax, màu vàng Gold, số IMEI 359922292838879 (đã qua sử dụng) và 01 sim mạng Viettel có các dãy số: 8984-04800-00427-87265. H1 tự nguyên giao nộp 01 điện thoại Samsung Galaxy S23 Ultra màu xanh (đã qua sử dụng) và 01 sim mạng Viettel có các dãy số: 8984-04800-00439-00289. Sau đó tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 19 giờ 50 phút ngày 01/8/2025, H1 sử dụng tài khoản Zalo tên “Mrhung” của mình nhắn tin đến tài khoản Zalo tên “P Đây Rồi” của P (P là một người quen biết qua xã hội của H1) để hỏi P đang ở đâu. Do không thấy P trả lời nên H1 sử dụng chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S23 Ultra màu xanh gọi cho P và nói “em ở đâu lấy cho anh 200.000 đồng”, P hiểu là H1 muốn mua ma túy với giá 200.000 đồng nên đồng ý rồi hẹn H1 đi ra khu vực cây xăng ở đường gom khu Công nghiệp thuộc khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh. H1 đến điểm hẹn gặp P hỏi: “còn không lấy cho anh 200.000 đồng với”, P trả lời có “Có”. H1 dùng tay phải lấy 200.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng) từ túi quần bên phải phía trước của H1 đang mặc đưa cho P. Sau đó, P dùng tay phải cầm tiền nhét vào túi quần sau bên phải, tay trái đưa cho H1 01 gói giấy bạc màu trắng, H1 biết đây là số ma túy mình cần mua nên cầm gói giấy bạc chứa ma túy ở lòng bàn tay trái của H1. Khi đang giao dịch mua bán ma túy thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy P bán cho H1, quá trình điều tra P khai mua của 01 người đàn ông tên L (không rõ họ tên, ngày sinh, địa chỉ cụ thể) với giá 500.000 đồng vào sáng ngày 01/8/2025 tại khu vực bãi rác khu phố M, phường P, tỉnh Bắc Ninh, với mục đích sử dụng và bán kiếm tiền chênh lệch.
Tại Kết luận giám định số 1651/KL-KTHS ngày 04/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,3859 gam, Là ma túy, loại ma túy: Heroine (H). Heroine có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.”
Với nội dung trên, Cáo trạng số 72/CT-VKSKV8 ngày 30/9/2025 của VKSND Khu vực 8, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Vi Văn P về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Nông Quốc H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo P và H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nêu trên. Hai bị cáo xác định hành vi của mình là phạm tội và hứa sẽ cải tạo tốt, không tái phạm. Bị cáo Vi Văn P xin miễn án phí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX:
- Tuyên bố bị cáo Vi Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nông Quốc H1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng khoản 1 Điều 251 (đối với bị cáo P); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo H1); điểm s, khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo H1) các điều 38, 47 Bộ luật hình sự; các điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt Vi Văn P từ 42 đến 45 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
- Xử phạt Nông Quốc H1 từ 39 đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định và 02 sim điện thoại; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo P, bị cáo H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Người bào chữa của bị cáo P là ông Nguyễn Văn H2 nhất trí với quan điểm của Đại diện VKS về tội danh. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX cân nhắc thêm hoàn cảnh khó khăn của bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở nơi có điều kiện kinh tế khó khăn để giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo Vi Văn P.
- Đại diện VKS vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị nêu trên.
- Bị cáo P nhất trí với quan điểm của người bào chữa nêu trên, không bổ sung gì thêm, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo H1 không tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người chứng kiến, trưng cầu giám định, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Vi Văn P và Nông Quốc H1 tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bản kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 20 giờ ngày 01/8/2025, tại đường G thuộc khu phố P, phường P, tỉnh Bắc Ninh, Vi Văn P có hành vi bán trái phép 0,3859 gam ma túy loại Heroine cho Nông Quốc H1 với giá 200.000 đồng. H1 mua ma túy để sử dụng cho bản thân.
Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Vi Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nông Quốc H1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự, đúng như Cáo trạng của VKSND Khu vực 8 – Bắc Ninh đã truy tố.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo P và H1 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H1 có ông nội là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo P và H1 đều không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
- Đối với mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định, đây là vật cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 200.000 Đồng mà P có được do bán ma túy trái phép cho H1, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 16 promax, quá trình điều tra xác minh là tài sản của chị Đinh Kim T1 cho bị cáo P mượn nhưng không biết P dùng vào việc phạm tội. Ngày 14/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị T1 là đúng quy định. Chị T1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy S23 Ultra màu xanh, quá trình điều tra xác minh là tài sản của anh La Văn H3 cho H1 mượn nhưng không biết H1 dùng vào việc phạm tội. Ngày 15/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chủ sở hữu là anh La Văn H3 là đúng quy định. Anh H3 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 sim mạng Viettel có các dãy số: 8984-04800-00439-00289; 01 sim mạng Viettel có các dãy số: 8984-04800-00427-87265 các bị cáo dùng để liên lạc với nhau để mua bán trái phép ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Liên quan đến vụ án: Còn có người đàn ông tên L bán ma túy cho P tại khu vực bãi rác thuộc khu phố M, phường P, tỉnh Bắc Ninh sáng ngày 01/8/2025, P không biết thông tin cụ thể của người đàn ông đó nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí:
Bị cáo P thuộc hộ cận nghèo, xin được miễn án phí nên miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Bị cáo H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Vi Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nông Quốc H1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng khoản 1 Điều 251 (đối với bị cáo P); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo H1); điểm s, khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 (Đối với bị cáo H1); các điều 38, 47 Bộ luật hình sự; các điều 106, 329, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt Vi Văn P 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 02/8/2025.
- Xử phạt Nông Quốc H1 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 02/8/2025.
- Tạm giam các bị cáo Vi Văn P và Nông Quốc H1 mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/10/2025) để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong; 01 sim mạng Viettel có các dãy số: 8984-04800-00439-00289; 01 sim mạng Viettel có các dãy số: 8984-04800-00427-87265.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng.
- Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 02/2025/KV8 giữa CSĐT Công an tỉnh B và Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 ngày 01/10/2025.
- Về án phí:
- - Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn P.
- - Bị cáo Nông Quốc H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đình Công |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ngô Thùy Phương |
THƯ KÝ PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Thứ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đình Công |
Bản án số 37/2025/HSST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 37/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
