TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 37/2025/HS - ST Ngày 18 tháng 11 năm 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Trung Thành
Ông Lê Xuân Lâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo: Lê Mai H, sinh ngày 08/04/1992 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm E, xã N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Con ông: Lê Văn H1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị S; Sinh năm 1959; Họ và tên vợ: Dương Thị Lệ T; Sinh năm 1989; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bị cáo có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2024. Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 03/3/2011, bị UBND quận T (cũ), thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh thời gian 24 tháng (đã chấp hành xong quyết định).
Bản án số 184/2016/HSST ngày 16/6/2016 của TAND thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là TAND khu vực 16 - Hồ Chí Minh) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bản án 82/2016/HSST ngày 29/11/2016 của TAND huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (nay là TAND khu vực 5 - Nghệ An) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù. (chấp hành xong án phạt tù ngày 01/11/2017);
Bản án số 17/2019/HSST ngày 23/7/2019 bị TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (nay là TAND khu vực 3 - Hà Tĩnh) xử phạt 24 tháng tù theo Bản án số về tội “Trộm cắp tài sản”, (chấp hành xong án phạt tù ngày 03/3/2021, đã xóa án tích).
1
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/06/2025, Chuyển tạm giam từ 29/06/2025 tại phân trại tạm giam khu vực cẩm T, sau đó C tạm giam về Trại tạm giam Công an tỉnh T cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Chị Ngọ Thị H2 - Sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Ngọ Duy V - Sinh năm: 1960.
- Bà Đỗ Thị N - Sinh năm: 1962.
- Chị Đinh Thị N1 - Sinh năm: 1994.
Địa chỉ: Thôn Q, xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn Q, xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt bị hại là Chị Ngọ Thị H2. Vắng mặt những người làm chứng là anh Ngọ Duy V, bà Đỗ Thị N và Chị Đinh Thị N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 21/06/2025 Lê Mai H, trú tại xóm E, xã N, tỉnh Nghệ An điều khiển xe mô tô từ nhà ra tỉnh Thanh Hoá tìm tài sản để trộm cắp, với mục đích bán kiếm tiền tiêu xài, khi đi H mang theo 01 cờ lê dài khoảng 40cm. Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày H đi qua nhà chị Ngọ Thị H2, ở khu phố T, xã N, tỉnh Thanh Hóa nhìn thấy nhà chị H2 không có người, H dựng xe đi vào nhà dùng cờ lê cậy phá khoá cửa chính vào trong nhà, rồi dùng cờ lê cậy khoá tủ đựng quần áo thì phát hiện trong tủ có một túi bóng màu đen, bên trong có số tiền 160.000.000 đồng, H lấy túi tiền rồi đi ra cầm theo chiếc cờ lê và ổ khoá bị H phá lên xe đi Hà Nội, trên đường đi H thay quần áo, mũ và ném cờ lê, ổ khoá và quần áo, mũ xuống bên đường. Sau đó H bán xe mô tô cho một người mua sắt vụn và tiêu xài hết số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng. Đến ngày 26/06/2025 H đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền còn lại là 100.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 2322/KL - KTHS ngày 04/07/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số tiền 100.000.000 đồng Lê Mai H giao nộp khi ra đầu thú (H khai đây là tiền trộm cắp được tại nhà chị Ngọ Thị H2) là tiền thật.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận được số tiền 100.000.000 đồng. Bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 60.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 01/CT-VKSKV10 ngày 02/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá truy tố Lê Mai H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lê Mai H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
2
Bị hại có mặt tại phiên toà trình bày lời khai phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Lê Mai H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Mai H với mức án từ 05 (năm) năm 06 (Sáu) tháng đến 06 (S) năm tù.
Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX xem xét buộc bị cáo bồi thường cho chị Ngọ Thị H2 số tiền 60.000.000 đồng. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không bào chữa và không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên toà, những người làm chứng đều vắng mặt, mặc dù đã được toà án triệu tập hợp lệ. Xét thấy việc vắng mặt của những người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án. Căn cứ điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Lê Mai H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu trên. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây
3
ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 21/06/2025 Lê Mai H đã lén lút thực hiện hành vi dùng chiếc cờ lê cậy phá khoá cửa, khoá tủ quần áo trộm cắp số tiền 160.000.000 đồng của gia đình chị Ngọ Thị H2 ở khu phố T, xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù.
[3] Hành vi phạm tội của Bị cáo Lê Mai H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận, gây bất bình đối với quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của cá nhân.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo. Mặt khác sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú, đồng thời đã nộp số tiền 100.000.000 đồng để trả lại cho bị hại. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy: Bị cáo H phạm tội có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo đã 03 lần bị kết án về hành vi cùng loại tội, 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo là thực sự cần thiết nhằm giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội; trên cơ sở xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Lê Mai H như đã nêu trên, khi quyết định hình phạt xét thấy việc cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian là cần thiết, nhưng cũng cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân lương thiện.
Tại phiên toà, đại diện viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung:
4
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Xét bị cáo Lê Mai H không có nghề nghiệp, tài sản và thu nhập ổn định nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với số tiền 100.000.000 đồng mà bị cáo giao nộp. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã giám định, xác định là tiền thật, xác định đây là tài sản hợp pháp của chị H2 (Bị hại) nên đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật. Nên HĐXX không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã trộm cắp số tiền 160.000.000 đồng của bị hại. Bị cáo đã giao nộp, trả lại cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 60.000.000 đồng. Đây là số tiền thực tế bị cáo đã trộm cắp của bị hại mà chưa hoàn trả lại nên yêu cầu của bị hại đối với bị cáo là có căn cứ. Do đó buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng là phù hợp.
[8] Về Án phí:
Bị cáo H là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định và bị cáo phải bồi thường về dân sự cho chị Ngọ Thị H2 số tiền 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng nên bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ: Điều 48 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333; Điều 336; Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589, 351 và 357 của Bộ luật dân sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Mai H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Mai H 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 26/06/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Mai H phải bồi thường cho chị Ngọ Thị H2, có địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng.
Khi bản án có hiệu pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền người phải thi hành án phải bồi thường, nếu người phải thi hành
5
án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì người phải thi hành án phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Án phí: Bị cáo Lê Mai H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.000.000 (Ba triệu) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/11/2025). Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hằng |
6
Bản án số 37/2025/HS - ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 37/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Mai H phạm tội "trộm cắp tài sản"
