Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 368/2025/DS-PT

Ngày 04-12-2025

“V/v tranh chấp hợp đồng thuê

khoán vườn cà phê”.

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Dương.

Các Thẩm phán tham gia: Ông K'Tiêng và ông Nguyễn Hồng Chương.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chính, là Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 361/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025 về việc “ Tranh chấp hợp đồng thuê khoán vườn cà phê”.

Do Bản án số: 10/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 573/2025/QĐXXPT-DS ngày 17-11-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng - Có mặt.
  2. Bị đơn:
    • 2.1. Ông Ngô Văn M; địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng - Có mặt.
    • 2.2. Bà Đoàn Thị T; địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng- Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Đình D là Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ - Có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T1; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Quảng Trị- Có đơn xét xử vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Ngô Văn M và bà Đoàn Thị T.
  5. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn P, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị T1 trình bày:
    1. Ngày 22-4-2011, giữa ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị T1 và ông Ngô Văn M, bà Đoàn Thị T ký hợp đồng cho thuê khoán thửa đất số 129, tờ bản đồ số 4, diện tích 13.780m², được cấp GCNQSDĐ ngày 04-7-2007, trên đất đã trồng 1.300 cây cà phê năm 2006, tọa lạc tại B, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay là xã K, tỉnh Lâm Đồng). Thời hạn thuê 05 năm (kể từ ngày 22-4-2011 đến ngày 22-12-2016), mỗi năm ông M, bà T phải trả cho ông P là 500kg cà phê vối nhân xô vào ngày 30 tháng 11 hàng năm tại nhà ông M, bà T. Tuy nhiên trong năm 2012 và năm 2013, mỗi năm ông M và bà T còn nợ 200kg cà phê nhân.
    2. Khi hết hạn của hợp đồng thuê ngày 22-4-2011, thì ông P và ông M, bà T có thỏa thuận bằng lời nói (gọi điện thoại) tiếp tục cho thuê khoán năm 2017 và năm 2018, mỗi năm trả 500kg cà phê nhân; năm 2018 còn 500kg cà phê nhân.
    3. Ngày 22-3-2019, ông P và ông M, bà T tiếp tục thỏa thuận ký hợp đồng cho thuê khoán vườn cà phê thời hạn thuê 05 năm (từ ngày 22-3-2019 đến ngày 28-12-2024), mỗi năm ông M, bà T phải trả 700kg cà phê vối nhân xô. Tuy nhiên, năm 2021 ông M bà T còn nợ 200kg và năm 2024 nợ 700kg cà phê nhân.
    4. Do đó, ông P khởi kiện ông M và bà T trả: cà phê nhân còn nợ của các năm 2012, 2013: 400kg, năm 2018: 500kg, năm 2021: 200kg và năm 2024: 700kg; tổng cộng là 1.800kg cà phê vối nhân xô, theo giá thị trường 120.000kg, tương ứng số tiền 216.000.000đồng.
  2. Bị đơn Ngô Văn M trình bày:
    1. Ngày 22-4-2011, giữa ông M, bà T1 ký hợp đồng thuê khoán vườn cà phê như ông P trình bày trên là đúng sự thật. Song, sản lượng cà phê nhân theo thỏa thuận gia đình ông M đã trả đầy đủ cho ông P.
    2. Đối với các năm 2017 và 2018: Do đi đi làm ăn xa, không thể chăm sóc được vườn cà phê, do đó ông P có thỏa thuận bằng lời nói cho ông M tiếp tục chăm sóc và thu hoạch, không phải trả sản lượng cà phê nhân, khi nào có người mua thì ông P sẽ bán vườn cà phê.
    3. Năm 2019, ông M và ông P tiếp tục thỏa thuận về việc cho thuê khoán vườn cà phê, sau khi ký hợp đồng do thấy sản lượng phải trả cao, trong khi thời tiết khô hạn, thiếu nước tưới nên không thuê nữa và đã xé bỏ hợp đồng. Tuy nhiên, do không có ai chăm sóc vườn rẫy cà phê, trong khi ông M có giếng khoan, nên ông P trao đổi cho ông M tiếp tục chăm sóc và thu hoạch, không phải trả sản lượng.
    4. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông P: Ông M và bà T không đồng ý.
  3. Bản án số: 10/2025/DSST, ngày 17-9-2025 của Toà án nhân dân khu vực 9- Lâm Đồng, quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P: Buộc ông Ngô Văn M, bà Đoàn Thị T thanh toán cho ông Nguyễn Văn P 1.800kg cà phê nhân. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
  4. Ngày 17-9-2025, bị đơn kháng cáo toàn bộ Bản án thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Toà án nhân dân khu vực 9- Lâm Đồng, yêu cầu cấp phúc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  5. Quyết định kháng nghị số: 05/QĐ-VKS-DS ngày 16-10-2025 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhận dân tỉnh Lâm Đồng, nội dung: Sửa một phần Bản án số: 10/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng theo hướng: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả 500kg cà phê năm 2018. Buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn sản lượng cà phê nhân còn nợ bằng tiền tại thời điểm xét xử sơ thẩm, cụ thế: 1.300kg, giá 120.000đồng/kg, tương ứng số tiền 156.000.000đồng.
  6. Tại phiển tòa phúc thẩm:
    • Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; các đương sự đều xác nhận theo hợp đồng đã thỏa thuận hình thức thanh toán bằng cà phê vối (Robusta) nhân xô tính bằng tiền Đồng Việt Nam tại thời điểm trả nợ (chuyển khoản).
    • Người bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày luận cứ: Đối với hợp đồng giao kết ngày 22-4-2011, căn cứ giấy xác nhận nợ ngày 03-3-2012, chỉ có cơ sở xác định bị đơn còn nợ 200kg cà phê nhân xô của năm 2012. Đối với hợp đồng bằng lời nói giữa các bên vào năm 2017, 2018 nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Riêng hợp đồng giao kết ngày 22-3-2019 (bản pho to), quá trình giải quyết đơn tố cáo tại C đến hành vi cưỡng đoạt tài sản của ông P và chỉ có giá trị chứng minh ông P đã giao vườn cà phê cho ông M nhưng vẫn đưa người vào thu hoạch. Do đó, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông M và buộc ông M trả ông P 200kg cà phê nhân còn nợ của năm 2012.
    • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng và một phần kháng cáo của bị đơn: Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tổng khối lượng cà phê nhân là 1.300kg (cụ thể năm 2012, 2013: 400kg, năm 2021: 200kg và năm 2024: 700kg), thanh toán bằng tiền tương ứng 156.000.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Ngô Văn M và bà Đoàn Thị T thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung kháng cáo:
    • Đối với “Hợp đồng thuê rẫy cà phê” ngày 22-4-2011: Các đương sự đều thừa nhận có thỏa thuận về thời hạn thuê, sản lượng cà phê nhân phải trả. Mặt khác, tại “Giấy nhận tiền ngày 03-03-2012” (bút lục số 07), giữa bà Nguyễn Thị B (chị gái ông P) và ông Ngô Văn M, ghi nhận: bà B (nhận thay cho ông P) 300kg cà phê nhân năm 2012, còn lại 200kg hẹn giữa năm 2013 sẽ trả. Ngoài ra, ông P không cung cấp được chứng cứ chứng minh khối lượng cà phê ông M, bà T còn nợ năm 2013. Do vậy, Tòa án khu nhân dân khu vực 9- Lâm Đồng: buộc ông M, bà T trả ông P 200kg cà phê nhân của năm 2013 là không có căn cứ.
    • Đối với hợp đồng thuê khoán vườn cà phê năm 2017 và 2018: Ông P, bà T1 cho rằng có thỏa thuận bằng lời nói về việc cho ông M, bà T tiếp tục cho thuê khoán vườn cà phê, mỗi năm trả 500kg cà phê nhân. Song, ông M, bà T không thừa nhận, đồng thời ông P, bà T1 không cung cấp được chứng cứ để chứng minh. Do đó, Tòa án khu nhân dân khu vực 9-Lâm Đồng: buộc ông M, bà T trả ông P 500kg cà phê nhân của năm 2018 là không có căn cứ.
    • Đối với “Hợp đồng thuê vườn rẫy cà phể” ngày 22-3-2019: Các bên đương sự đều thừa nhận đã giao kết hợp đồng, nội dung: Thời hạn thuê 05 năm (từ ngày 22-3-2019 đến 28-12-2024), mỗi năm trả 700kg cà phê nhân. Mặt khác, tại “Đơn tố cáo” ngày 11-10-2024 và “Đơn tố cáo” ngày 21-10-2024 ông M gửi Công an huyện K và Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, kèm theo bản phô tô “Hợp đồng thuê vườn rẫy cà phể” ngày 22-3-2019 (các bút lục từ 37 đến 45), nội dung trình bày: Ngày 22-3-2019, giữa ông M và ông P, bà T1 có ký hợp đồng thuê đất rẫy, mỗi năm phải trả 700kg cà phê nhân. Hiện nay, rẫy cà phê đang trong mùa thu hoạch, nhưng ngày 11-10-2024 ông P tự ý phá nhà rẫy cùng nhiều người không chế để cưỡng đoạt khoảng 50kg cà phê quả tươi của ông M. Ngày 29-11-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, ban hành Thông báo xử lý đơn (bút lục số 49), nội dung: Vụ việc không có dấu hiệu tội phạm và hướng dẫn ông M khởi kiện. Như vậy, ông M cho rằng từ năm 2019 đến năm 2024 ông P, bà T1 cho chăm sóc vườn cà phê và không thu sản lượng cà phê nhân là không có căn cứ và mâu thuẫn với nội dung đã trình bày trong đơn tố cáo nêu trên. Song, ông P yêu cầu ông M, bà T trả 200kg cà phê nhân còn nợ năm 2021 nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, căn cứ hợp đồng thuê khoán nêu trên, diễn biến sự việc tố cáo của ông M đối với ông P, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ kết luận: Năm 2024 ông M, bà T chưa trả cho ông P 700kg cà phê nhân theo thỏa thuận.
    • Đối với nghĩa vụ thanh toán: Căn cứ hợp đồng thuê khoán các bên đã giao kết và trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Giữa ông P và ông M, bà T thỏa thuận trả bằng cà phê vối (R) nhân xô, tính bằng tiền Đồng Việt Nam tại thời điểm trả.
  3. Từ những nội dung đã nhận định tại các [2.1], [2.2], [2.3] và [2.4] nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng và một phần kháng cáo của bị đơn, cụ thể: Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 900kg cà phê vối (cà phê R1) nhân xô ( trong đó năm 2012: 200kg và năm 2024: 700kg)
  4. Về án phí: Do kháng cáo được được chấp nhận một phần, ông M, bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị khối lượng cà phê phải trả cho nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9- Lâm Đồng.
  2. Áp dụng các Điều 483, 488 và 489 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P: Buộc ông Ngô Văn M và bà Đoàn Thị T trả cho ông Nguyễn Văn P 900kg (Chín trăm ki lô gam) cà phê vối (R) nhân xô (trả bằng tiền Đồng Việt Nam theo giá thị trường cà phê nhân xô tại thời điểm thực hiện nghĩa vụ trả nợ).
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
    • Buộc ông Ngô Văn M và bà Đoàn Thị T phải chịu 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại các Biên lai số 0004702 ngày 10-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
    • Buộc ông Nguyễn Văn P phải chịu 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại các Biên lai số 0008272, ngày 12-3-2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND khu vực 9;
  • - THADS khu vực 9;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: THCTP, Tòa DS, HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Đức Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 368/2025/DS-PT ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng thuê khoán vườn cà phê

  • Số bản án: 368/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê khoán vườn cà phê
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê khoán vườn cà phê
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger