TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HSST
Ngày: 28/10/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ, bà Ngô Thuỳ Phương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND Khu vực 8 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 15/10/2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn N, sinh năm 1962.
HKTT: Khu C, phường K, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Lương Thị C; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965 (đã ly hôn), con: 02 con, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1988;
- - Tiền án: Tại Bản án số 204/2022/HSST ngày 21/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 18/10/2023.
- - Tiền sự: Không.
- - Nhân thân:
- + Tại Bản án số 77/2002/HSST ngày 14/5/2002, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh) xử phạt 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- + Tại Bản án số 05/2007/HSST ngày 09/2/2007, Tòa án nhân dân thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh) xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- + Tại Bản án số 18/2008/HSST ngày 26/11/2008, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh) xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- + Ngày 22/3/2016 bị Công an thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh) xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về tội “Trộm cắp tài sản”;
- + Tại Bản án số 188/2016/HSST ngày 05/8/2016, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- + Tại Bản án số 46/2018/HSST ngày 02/8/2018, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh) xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã được xóa án tích.
- - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025. (Có mặt tại phiên tòa).
- Lò Văn T2, sinh năm 1987.
HKTT: Bản Lứa, xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Con ông Lò Văn N1 và bà Lò Thị S; Vợ: Quàng Thị H, sinh năm 1988 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2018;
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
- - Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 15 phút ngày 07/8/2025, tại khu phố P, phường P, tỉnh Bắc Ninh, Tổ công tác Công an tỉnh B phối hợp cùng Công an phường P, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Nguyễn Văn N có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn T2. Thu giữ tại lòng bàn tay trái của T2 01 gói giấy bạc màu vàng, mở ra gồm 02 lớp giấy bạc bên ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục, T2 khai nhận đây là số ma túy vừa mua được của N. Thu giữ tại túi quần bên phải N đang mặc 04 gói nilon màu đen, mở ra bên trong mỗi gói đều chứa một lớp giấy bạc bên ngoài màu vàng, bên trong màu trắng, trong các gói là chất bột màu trắng dạng cục được bọc trong lớp nilon màu trắng. Thu giữ tại túi quần bên trái của N 12 gói giấy bạc màu vàng, mở ra bên trong gồm 2 lớp giấy bạc bên ngoài màu vàng, bên trong màu trắng, trong các gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. Ngoài ra, thu giữ tại lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn N 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, N khai nhận đây là số tiền vừa bán ma túy cho T2.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận: Do có nhu cầu mua ma túy về sử dụng, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/8/2025, T2 đi xe khách từ Khu dân cư Q, phường T, tỉnh Bắc Ninh đến khu phố P, phường P, tỉnh Bắc Ninh tìm người bán ma túy. Đến khoảng 14 giờ 15 phút, T2 gặp N và hỏi mua 500.000 đồng ma túy thì N đồng ý. T2 đưa cho N 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, N cầm tiền đồng thời đưa lại cho T2 01 gói giấy bạc màu vàng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng. T2 biết là ma túy cần mua nên cầm gói giấy bạc chứa ma túy ở lòng bàn tay trái rồi đi về. Khi vừa giao dịch mua bán ma túy thì bị bắt quả tang như đã nêu ở trên.
Về nguồn gốc số ma túy N bán cho T2 và thu giữ được trên người của N, quá trình điều tra N khai mua của 01 người đàn ông không quen biết N với giá 12.000.000 đồng vào buổi trưa ngày 07/8/2025 tại khu vực nghĩa trang thuộc khu phố C, phường T, tỉnh Bắc Ninh, với mục đích để bán kiếm tiền chênh lệch
Tại Kết luận giám định số 1732/KL-KTHS ngày 08/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- “+ Chất bột màu trắng dạng cục bên trong phong bì thư ký hiệu “Vật chứng tạm giữ của Lò Văn T2” gửi giám định có khối lượng là 0,2123 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (H).
- + Chất bột màu trắng dạng cục bên trong phong bì thư ký hiệu “Vật chứng tạm giữ của Nguyễn Văn N” gửi giám định có khối lượng là 10,0232 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (H).
Heroin (Heroine) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất./.”
Với nội dung trên, Cáo trạng số 73/CT-VKSQV ngày 30/9/2025 của VKSND Khu vực 8 – Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn N về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và Lò Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo N và T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nêu trên. Hai bị cáo xác định hành vi của mình là phạm tội và hứa sẽ cải tạo tốt, không tái phạm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lò Văn T2 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- - Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251 (đối với bị cáo N); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo T2); điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với bị cáo N); các điều 38, 47 Bộ luật hình sự; các điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Xử phạt Nguyễn Văn N từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
- - Xử phạt Lò Văn T2 từ 39 đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
- - Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng.
- - Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo N; bị cáo T2 phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
- - Bị cáo N và bị cáo T2 không tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị cáo, lấy lời khai người chứng kiến, trưng cầu giám định, xác minh lý lịch, nhân thân của bị cáo; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị cáo, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N và Lò Văn T2 tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 14 giờ 15 phút ngày 07/8/2025, tại khu phố P, phường P, tỉnh Bắc Ninh, Công an tỉnh B, Nguyễn Văn N có hành vi bán trái phép 0,2123 gam ma túy loại Heroine cho Lò Văn T2 lấy số tiền 500.000 đồng. T2 mua ma túy mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, thu giữ tại trên người của Ninh 10,0232 gam ma túy Heroine được cất giấu để bán. Như vậy, khối lượng ma túy mà N dùng để bán hưởng tiền chênh lệch là: 10,2355 gam Heroine.
Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i Khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Lò Văn T2 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự, đúng như Cáo trạng của VKSND Khu vực 8 – Bắc Ninh đã truy tố.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- - Bị cáo N phạm tội khi chưa được xóa án tích nên chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, Khoản 1, Điều 52 BLHS.
- - Bị cáo T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo T2 có bố là thương binh nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo N và T2 đều không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
- - Đối với mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định, đây là vật cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 500.000 Đồng thu giữ của N, N có được do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7] Liên quan đến vụ án còn có: Người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn N tại khu vực nghĩa trang thuộc khu phố C, phường T, tỉnh Bắc Ninh trưa ngày 07/8/2025, quá trình điều tra N không biết thông tin cụ thể của người đàn ông đó nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí:
- Bị cáo N là người cao tuổi nên miễn án phí cho bị cáo.
- Bị cáo T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lò Văn T2 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251 (đối với bị cáo N); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo T2); điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với bị cáo N); khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo T2) các điều 38, 47 Bộ luật hình sự; các điều 106, 329, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt Nguyễn Văn N 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 07/8/2025.
- Xử phạt Lò Văn T2 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 07/8/2025.
- Tạm giam các bị cáo Nguyễn Văn N và Lò Văn T2 mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi giấy niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định;
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 24/2025/KV8 giữa CSĐT Công an tỉnh B và Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 ngày 06/10/2025.
- Về án phí:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn N
Bị cáo Lò Văn T2 phải chịu 200.000 đồng án phí hính sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đình Công |
Bản án số 36/2025/HSST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
