TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày: 27-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quỹ
Ông Trần Văn Thắng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tống Thị T; sinh ngày 13-9-1981 tại tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân: 0361810078310; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà Đ, P1 V, phường T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tống Phan A và bà: Nguyễn Thị M; có chồng: Nguyễn Chí H và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29-8-2025 đến nay; có mặt.
Bị hại: Chị Ngô Thị Hồng H1, sinh năm 1988; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà H đường T, phường T, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03-07-2025, Tống Thị T đi đến cửa hàng T1, địa chỉ: số A đường T, phường T, tỉnh Ninh Bình. T phát hiện chị Ngô Thị Hồng H1 dùng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen chuyển khoản thanh toán tiền mua hàng rồi để chiếc điện thoại trên mặt tủ của cửa hàng. Quan sát thấy chị H1 cho hàng vào túi và đi ra khỏi quầy thanh toán, T dùng tay phải cầm tờ tiền giơ lên để che chiếc điện thoại, dùng bàn tay trái vừa che, vừa gạt chiếc điện thoại về phía mình, sau khi thanh toán tiền và nhận chai nước 7up, T dùng tay trái cầm chai nước đưa ra đằng trước để che, tay phải Thủy cầm chiếc điện thoại rồi ra xe đi về. Sau khi về nhà, chị H1 không thấy điện thoại nên quay lại cửa hàng T1 để tìm nhưng không thấy, chị H1 đã xem lại camera an ninh của cửa hàng thì thấy Tống Thị T đã trộm cắp chiếc điện thoại nên đã trình báo Công an phường T, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ 02 đoạn Video clip của camera an ninh tại cửa hàng T1 ghi lại nội dung sự việc.
Quá trình điều tra, Tống Thị T khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại Iphone Xsmax đã trộm cắp.
Bản kết luận giám định số 145/KL-KTHS ngày 21-8-2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp tin video gửi giám định.
Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 25-07-2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: Chiếc điện thoại Iphone XsMax màu đen, số IMEI: 353093101526786, IMEI 2: 353093101739215 (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 03-07-2025 có giá trị là 4.933.333đ. Cơ quan điều tra Công an tỉnh N đã trả lại chiếc điện thoại cho chị Ngô Thị Hồng H1, chị H1 nhận lại tài sản và không đề nghị gì khác.
Bản Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình truy tố Tống Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Tống Thị T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Tống Thị T theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Tống Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; vấn đề dân sự: Không xem xét giải quyết.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tống Thị T và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Tống Thị T, lời khai của bị hại, Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 25-7-2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03-7-2025, tại cửa hàng T2, địa chỉ: Số nhà A đường T, phường T, tỉnh Ninh Bình, Tống Thị T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Ngô Thị Hồng H1 01 chiếc điện thoại Iphone XsMax màu đen, số IMEI: 353093101526786, IMEI 2: 353093101739215 trị giá 4.933.333 đồng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4]. Về hình phạt chính: Xét bị cáo Tống Thị T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chồng bị cáo mới bị tại nạn giao thông, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng cải tạo tại địa phương; nên Hội đồng xét xử sẽ miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vấn đề dân sự: Chị Ngô Thị Hồng H1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo Tống Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Tống Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Tống Thị T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Tống Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
2. Án phí: Bị cáo Tống Thị T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Tống Thị T được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Ngô Thị Hồng H1 được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
|
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 27/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tống Thị Thuỷ -TCTS
