TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I – QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/DSST Ngày 30 - 11 - 2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Minh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Văn và bà Nguyễn Thị Liễu
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Nhân - Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hồng Nhung – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 11 năm 2025 đến ngày 30 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 26/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị R, sinh năm 1938; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hoàng Thị R: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964; nơi cư trú: Nhà số B, ngõ G đường L, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trương Văn B - Văn phòng luật sự Công Bằng – thuộc Đoàn luật sự tỉnh Quảng Trị; địa chỉ: Số B T, TDP F N, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- - Bị đơn: Ông Hoàng Viết L, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hoàng Viết T, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Quảng Trị, do ông Lê Đức T1 – Trưởng phòng Kinh tế Hạ tầng và Đô thị phường Đ đại diện;
- + Ông Hoàng Viết Q, sinh năm 1957; Cư trú tại: Nhà số A đường P, phường C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Viết Á, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- + Ông Hoàng Viết Á, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- + Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1964; Nơi thường trú: Tổ dân phố G Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Viết Á, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- + Ông Hoàng V1, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Viết Q, sinh năm 1957; Cư trú tại: Số A đường P, phường C, thành phố Hồ Chí Minh.
- + Bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1974; Nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Quảng Trị);
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Viết Á, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- + Bà Lại Thị N1, sinh năm 1972 (vợ ông Hoàng Viết P);
- + Anh Hoàng Viết Nhật L2, sinh năm 1997 (con ông Hoàng Viết P);
- + Anh Hoàng Gia T2, sinh năm 2006 (con ông Hoàng Viết P);
- + Chị Hoàng Thị Mỹ D, sinh năm 2002 (con ông Hoàng Viết P);
- Đều cư trú tại: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Viết Á, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- + Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- + Bà Trần Thị Thanh N2, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- Người đại diện cho bà H và bà N2: Ông Hoàng Viết T, sinh 1999; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- + Bà Đào Thị T3, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- + Ông Hoàng Viết P1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- Người đại diện theo ủy quyền của bà T3 và ông P1: ông Hoàng Viết Á; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
- + Ông Hoàng Viết T, sinh 1999; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị;
Tại phiên tòa, có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, Bị đơn, Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: ông Q, ông Á, ông T, bà H, ông P1. Vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: bà V, ông V1, bà L1, bà N1, bà D, anh L2, anh T2, chị N2, bà T3. Đại diện UBND phường Đ có Đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Thửa đất đang tranh chấp nguyên là một phần của thửa đất số 01, Tờ bản đồ số 20 xã B do vợ chồng bà R khai hoang từ năm 1979 với diện tích khoảng 3.500m² để làm nhà và sản xuất. Quá trình khai hoang chỉ có vợ chồng bà R trực tiếp làm, sau đó một thời gian dài các con lớn mới tham gia vào việc trồng cây trên đất. Sau khi khai hoang và sử dụng, thửa đất đã được kê khai vào Sổ mục kê đất đai của UBND xã B đứng tên ông Hoàng P2. Ngày 11/02/1998, một phần của thửa đất khai hoang đã được UBND thị xã Đ cấp Giấy chứng nhận QSD đất mang tên ông Hoàng P2 theo thửa đất số 224, tờ bản đồ số 46, với diện tích 1.428,1m², trong đó có 730 m² đất ở và đất vườn. Đối với diện tích 560m² đất vườn còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận. Thời điểm thửa đất số 224, tờ bản đồ số 46 được cấp Giấy chứng nhận, ông L không sống tại địa phương mà về nhà vợ sinh sống. Đến năm 2002, ông L về xin bố mẹ mượn đất để làm hồ nuôi cá tăng gia sản xuất, nhưng thực tế ông L không làm hồ cá mà làm mống để dựng nhà ở. Khi ông L dựng cọc tre để làm nhà, bà R đã nhiều lần ngăn cản nhưng không được.
Năm 2006, ông Hoàng P2 qua đời, theo sự thoả thuận của mọingười trong gia đình, chính quyền địa phương đã chuyển toàn bộ quyền sử dụng do vợ chồng khai hoang và tất cả sổ đỏ đều mang tên bà Hoàng Thị R. Năm 2014, UBND thành phố Đ đo đạc, vẽ lại bản đồ, theo đó xác định toàn bộ thửa đất vợ chồng khai hoang là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 20 có diện tích 1.356,5 m2. Sau đó, bà R đã làm thủ tục tách thửa đất số 01, tờ bản đồ số 20 được chia ra thành 7 thửa, trong đó 6 thửa đã được cấp sổ đỏ là đất ở và chuyển quyền sử dụng lại nhượng cho các con, cụ thể gồm: thửa số 450 có diện tích 103,2m2; Thửa số: 451, có diện tích 104,8m2: Thửa đất số: 452 có diện tích 106,5m2; Thửa đất số: 453, có diện tích 158,5m2; Thửa đất số: 454, có diện tích 148,3m2; Thửa đất số 455, có diện tích 160,4m2. Riêng thửa đất số 446, tờ bản đồ số 20, diện tích 560 m2 là đất trồng cây lâu năm chưa được cấp Giấy chứng nhận. Thửa đất này khi ông P2 còn sống, có cho 2 con trai là Hoàng Viết L và Hoàng Viết Á sử dụng để tăng gia sản xuất. Tuy nhiên, năm 2002, anh L xây móng nhà tạm, đến năm 2004 thì bỏ vợ, bỏ đất đi đâu không rõ, đến năm 2017 mới quay về làm nhà cấp 4 trên móng nhà cũ và ở cho đến nay. Ông Hoàng Viết Á cũng đã xây nhà cấp 4 trên thửa đất này và cho con trai ở tạm nhưng khi xây nhà, cả ông L và ông Á đều bị UBND xã B đình chỉ vì xây nhà trái phép trên đất nông nghiệp. Hiện nay, trên thửa đất vẫn còn 3 ngôi nhà cấp 4 và một số cây do vợ chồng bà R trồng, trong đó có 5 gốc dừa, 1 cây khế, 1 cây xoài. Năm 2023, bà R làm đơn xin cấp sổ đỏ đối với thửa đất số 446, tờ bản đồ số 20 nhưng xã B không chấp nhận do đang có tranh chấp với con trai là Hoàng Viết L và việc kê khai nguồn gốc sử dụng đất và xây dựng nhà ở không phù hợp với thực tế (có việc ông L xây dựng các công trình trên đất nông nghiệp). Bà R đã nhiều lần yêu cầu 2 con trả lại đất, sau đó sẽ cho tặng lại các con nhưng ông L không đồng ý. Ông Á đồng ý tháo dỡ toàn bộ các công trình đã xây dựng để trả đất cho bà R.
Gia đình bà R đã tự hòa giải nội bộ và đưa ra quan điểm nếu ông L có nguyện vọng thì bà R đồng ý tặng cho lại ông L khoảng 300m² tại phần đất gắn với nhà mà ông L và anh T đã làm nhà, nhưng ông L vẫn không đồng ý. Theo đơn đề nghị ngày 25/12/2024 của bà R, UBND xã B, thành phố Đ đã tiến hành hoà tranh chấp nhưng không thành. Vì vậy bà R khởi kiện, yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 xét xử buộc bị đơn Hoàng Viết L phải tháo dỡ những công trình xây dựng trái phép trên đất và trả lại phần đất đã chiếm giữ trái phép cho bà R.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày quan điểm thay đổi yêu cầu khởi kiện, theo đó chỉ yêu cầu bị đơn ông Hoàng Viết L phải trả lại một phần của thửa đất tranh chấp với diện tích khoảng 100m², phần diện tích đất còn lại giao cho ông Hoàng Viết L và ông Hoàng Viết Á được quyền sử dụng. Trường hợp trên đất có tài sản của bị đơn và người liên quan thì yêu cầu buộc tháo dỡ để đảm bảo việc thực hiện các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hoàng Thị R.
- Tại Bản tự khai, nội dung trình bày tại các Đơn, các phiên hòa giải, bị đơn ông Hoàng Viết L và người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp là do ông L cùng bố mẹ và các anh chị em cùng khai hoang từ năm 1980-1981. Sau khi khai hoang, năm 2002 ông L đã trực tiếp trồng cây và dựng bi làm mống để kè bảo vệ cho khuôn viên đất. Ông L thừa nhận, sau khi khai hoang đất, ông L có thời gian không sinh sống ở địa phương nhưng vẫn thường xuyên lui tới để sử dụng đất. Đến năm 2017, ông L đã làm ngôi nhà hiện tại trên thửa đất và sử dụng ổn định cho đến nay. Đến năm 2024, con trai ông L là ông T có làm thêm 01 ngôi nhà trên đất để vợ chồng T sử dụng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà R cũng như quan điểm của người đại diện theo ủy quyền của bà R tại phiên tòa, ông L không đồng ý. Đề nghị Tòa án xem xét lại nguồn gốc và quá trình sử dụng đất để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, xác định phần đất gia đình ông L đang sử dụng thuộc quyền sử dụng của gia đình ông.
- Ý kiến của ông Hoàng Viết T: Ngôi nhà hiện tồn tại trên một phần của thửa đất tranh chấp là tài sản riêng của ông T. Đối với tranh chấp giữa bà nội – bà Hoàng Thị R với ông L, đề nghị các bên phối hợp để cùng nhau giải quyết tranh chấp để thửa đất được cấp Giấy chứng nhận theo đúng quy định. Riêng phần đất hiện ông T đã làm nhà thì ông đề nghị xem xét để xác định thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông.
- Tại các Biên bản hòa giải, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Hoàng Viết Á trình bày:
Ông Á thống nhất như ý kiến của nguyên đơn đã trình bày. Ngoài ra, ông Á còn trình bày bổ sung: vào năm 2004, ông Hoàng P2 và bà Hoàng Thị R có làm Giấy tặng cho ông Á một phần của thửa đất đang tranh chấp nên ông mới sử dụng cho đến nay. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho các bên làm được thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Á đồng ý giao lại phần đất mình đang sử dụng để cho bà R hoàn thành thủ tục. Tại phiên tòa Nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện, theo đó chỉ nhận một phần của thửa đất còn lại giao cho ông Á và ông L, ông Á hoàn toàn đồng ý. Đối với ngôi nhà hiện đang tồn tại trên thửa đất là của ông cho con trai là Hoàng Viết P1 trực tiếp quản lý sử dụng. Tuy nhiên, ông Á đã được ông P1 ủy quyền tham gia tố tụng nên cũng đồng ý tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà để trả lại phần đất giao cho bà R theo như yêu cầu của bà R.
Tại Biên bản làm việc ngày 17/6/2025, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà Hoàng Thị V trình bày:
Quá trình sinh ra và lớn lên, bà V sống tại thôn H, xã B, đến năm 1995 đi lấy chồng và thoát ly về sống với gia đình chồng tại phường Đ, thành phố Đ. Sau khi chuyển đến vợ chồng bà đã được cấp đất tại phường Đ và sử dụng ổn định cho đến nay.
Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp là do bố mẹ khai hoang từ trước năm 1979. Sau khi khai hoang, thửa đất do cả gia đình cùng sử dụng. Đến thời điểm khoảng năm 1980 – 2000, một số anh chị em thoát ly đi làm ăn hoặc lấy vợ, chồng tạo dựng cuộc sống riêng không còn trực tiếp sử dụng đất với bố mẹ. Năm 2002, bố mẹ có cho ông L mượn thửa đất đang tranh chấp với mục đích để đào ao nuôi cá nhưng ông L đã tự ý dựng nhà tạm trên đất để sinh sống cho đến nay. Quá trình ông L làm mống và nhà này bà R đã có ý kiến và yêu cầu ông L tháo dỡ nhưng ông L vẫn xây dựng. Đến năm 2006, khi ông Hoàng P2 chết, các anh chị em trong gia đình thống nhất chuyển giao lại toàn bộ thửa đất cho bà R được thừa kế và toàn quyền sử dụng. Vì vậy, đến năm 2014 toàn bộ thửa đất đã được quy chủ cho bà Hoàng Thị R. Sau đó, một phần của thửa đất đã được cấp đổi Giấy chứng nhận mang tên mẹ R và chuyển quyền cho một số anh em trong gia đình (riêng ông L và ông Á không được cho đất do đang sử dụng phần đất tranh chấp và phần đất này không đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng).
Đối với thửa đất đang có tranh chấp - Thửa đất số 446, tờ bản đồ số 20 hiện nay, thực tế vào năm 2023 do việc kê khai nguồn gốc sử dụng đất và xây dựng nhà ở không phù hợp với thực tế (có việc ông L xây dựng các công trình trên đất nông nghiệp) nên không đủ điều kiện để được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng và ông L không tự nguyện bàn giao đất lại cho bà R. Hiện tại, bà V không có tranh chấp hay yêu cầu gì đối với thửa đất này. Đối với việc tranh chấp là giữa bà R với ông L, bà V không có ý kiến và đồng ý với giữ nguyên quan điểm giao toàn bộ thửa đất tranh chấp cho bà R toàn quyền định đoạt theo như các anh chị em trong gia đinh đã thống nhất sau khi ông Hoàng P2 chết.
- Tại Biên bản làm việc ngày 17/6/2025, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà Hoàng Thị L1 trình bày:
Bà L1 cũng thống nhất với toàn bộ quan điểm trình bày của bà Hoàng Thị V, không tranh chấp đối với Thửa đất số 446, tờ bản đồ số 20 hiện nay do ông Á, ông L đang sử dụng, không có yêu cầu độc lập và đồng ý giao cho bà R được toàn quyền sử dụng và định đoạt.
- Tại Biên bản làm việc ngày 20/8/2025, Biên bản hòa giải và tại các phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Hoàng Viết Q trình bày:
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp, ông Q hoàn toàn thống nhất với trình bày của phía Nguyên đơn. Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, ông Q cho rằng nguyên phần lớn thửa đất do bố mẹ khai hoang đã được kê khai, đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên ông Hoàng P2. Năm 2006 khi bố mất, các anh chị em trong gia đình đã thống giao toàn quyền sử dụng thửa đất cho bà R để thực hiện các thủ tục đăng ký biến động sang tên bà Hoàng Thị R, sau đó bà R đã tặng cho lại các con mỗi người 01 thửa và 01 thửa để làm nhà từ đường đứng tên đồng sở hữu và sử dụng, riêng bà R chưa có thửa đất nào để nương tựa khi đang tuổi cao sức yếu, phải sống nhờ nhà của các con. Ông Á và ông L mặc dù đang ở trên đất tranh chấp, nhưng chưa được công nhận quyền sử dụng một cách chính thức. Hơn nữa, nguyện vọng của bà R sau khi lấy lại đất từ ông L cũng để cho lại các con cho đảm bảo công bằng trong gia đình. Vì vậy, đề nghị phía nguyên đơn xem xét lại yêu cầu lấy lại toàn bộ thửa đất, thay vào đó, chỉ lấy lại một phần của thửa đất để sử dụng, phần còn lại giao cho ông Á và ông L sử dụng trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất hiện tại.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: bà Lại Thị N1, anh Hoàng Viết Nhật L2, anh Hoàng Gia T2, chị Hoàng Thị Mỹ D là những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Hoàng Viết P thống nhất trình bày:
Thống nhất với trình bày của Nguyên đơn về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất cũng như việc kê khai, quy chủ thửa đất mang tên bà Hoàng Thị R. Những người liên quan không có yêu cầu độc lập, không tranh chấp đối với thửa đất và cùng đề nghị, Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quan điểm trình bày của ông Hoàng Viết Q.
- Tại Biên bản làm việc ngày 17/6/2025 và tại phiên tòa, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Hoàng V1 trình bày:
Thống nhất với trình bày của Nguyên đơn về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất cũng như việc kê khai thửa đất. Quá trình sử dụng đất, đến năm 2006 khi ông Hoàng P2 mất thì toàn bộ các anh chị em trong gia đình đã thông nhất thỏa thuận giao lại tất cả các thửa đất cho bà R được toàn quyền sử dụng và định đoạt. Vì vậy, thửa đất đã được quy chủ thửa đất mang tên bà Hoàng Thị R vào năm 2014. Sau khi bà R được đứng tên trên các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì đã thực hiện tặng cho lại các con. Đối với thửa đất đang tranh chấp là thửa 446, Tờ bản đồ số 20, thực tế vào năm 2023 do việc kê khai nguồn gốc sử dụng đất, có việc xây dựng trái phép các công trình nhà ở trên đất và đang có tranh chấp do ông L không đồng ý bàn giao đất nên không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông V1 giữ nguyên quan điểm đã thống nhất giữa các anh chị em trong gia đình, đồng ý giao lại toàn bộ thửa đất cho bà R được toàn quyền sử dụng và định đoạt. Ông V1 không có tranh chấp đối với thửa đất này và cũng không có yêu cầu độc lập. Tại phiên tòa ngày 19/9/2025, ông V1 đồng ý ủy quyền cho ông Hoàng Viết Q thay mặt tham gia tố tụng.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Đào Thị T3 và anh Hoàng Viết P1 ủy quyền cho ông Hoàng Viết Á tham gia tố tụng và thống nhất với toàn bộ trình bày của ông Hoàng Viết Á, không có yêu cầu độc lập, không tranh chấp về quyền sử dụng đối với thửa đất 446, Tờ bản đồ số 20.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Trần Thị Thanh N2 và bà Nguyễn Thị H ủy quyền cho ông Hoàng Viết T tham gia tố tụng và thống nhất với toàn bộ trình bày của ông Hoàng Viết T, không có yêu cầu độc lập.
- Tại Công văn số 353/UBND ngày 06/5/2025 của Ủy ban nhân dân xã B cũ xác nhận nội dung:
Thửa đất số 446, tờ bản đồ số 20 hiện nay: theo bản đồ địa chính năm 2001 thuộc một phần thửa đất số 224, tờ bản đồ số 46 quy chủ cho ông Hoàng P2 (chồng bà Hoàng Thị R), theo bản đồ địa chính năm 2014 thuộc một phần thửa đất số 01, tờ bản đồ số 20 quy chủ cho bà Hoàng Thị R. Năm 2022, Bà Hoàng Thị R có nhu cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đã được cấp giấy chứng nhận (thuộc một phần thửa đất số 01, tờ bản đồ số 20) và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ chỉnh lý thành thửa số 446, tờ số 20 (Phần diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận)
Năm 2023, bà Hoàng Thị R có nộp hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất số 446, tờ bản đồ số 20, tuy nhiên qua xác minh thì việc kê khai nguồn gốc sử dụng đất và xây dựng nhà ở không phù hợp với thực tế nên Ủy ban nhân dân xã B đã trả hồ sơ theo Thông báo số 364/TN-UBND ngày 28/4/2023.
- Tại Công văn số 1726/UBND-KTHTĐT ngày 05/9/2025, UBND phường Đ xác nhận nội dung:
Qua kiểm tra, đối chiếu với hệ thống bản đồ đo vẽ qua các thời kỳ thì thửa đất đang tranh chấp nói trên thuộc một phần thửa đất số 246, tờ bản đồ giải thửa số 6 (B) được can vẽ năm 1995, diện tích 3.510m², mục đích sử dụng là đất hoang; thuộc một phần thửa đất số 224, tờ bản đồ địa chính số 46 (B) đo vẽ năm 2001, diện tích 1.428,1m², mục đích sử dụng là đất ở và đất vườn liền kề nhà ở, chủ sử dụng đất là ông Hoàng P2 (chồng bà Hoàng Thị R); thuộc một phần thửa đất số 01, Tờ bản đồ địa chính đo vẽ năm 2014 số 20 (B), diện tích 1.350,5 m², mục đích sử dụng là đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm, chủ sử dụng đất là bà Hoàng Thị R.
Thửa đất số 446, tờ số 20 (B), diện tích 553,2 m² là đất trồng cây lâu năm có nguồn gốc do ông, bà Hoàng Viết P2 - Hoàng Thị R khai hoang để sử dụng trồng cây từ năm 1999, sau thời điểm đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đang sử dụng tại thừa số 248, tờ bản đồ giải thửa số 6 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 11/02/1998); ông Hoàng Viết L xây dựng công trình nhà tại thửa đất nói trên từ năm 2017.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án xác định:
Thửa đất số 446, tờ số 20 xã B có tứ cận cụ thể như sau:
Phía Bắc tiếp giáp với thửa đất số 195, TBĐ số 20 xã B cũ (đất thuộc quyền quản lý của UBND xã), kích thước 30,95m; Phía Đông tiếp giáp thửa đát số 450, TBĐ số 20, kích thước 20,61m; phía Nam giáp đường giao thông, kích thước 26,9m; phía Tây tiếp giáp đường giao thông, kích thước 19,22m.
Trên thửa đất có: 03 ngôi nhà cấp 4, mống xây đá hộc, không có kết cấu bê tông cốt thép chịu lực, tường xây bằng gạch hoặc Block dày khoảng 15cm, đã tô trát hoàn chỉnh nhưng chưa sơn hoàn thiện; 01 nhà vệ sinh (công trình phụ) diện tích 5,1m² gắn liền với 01 bể phốt, 04 trụ bê tông làm cột đỡ bể nước bằng inox gắn liền với ống cấp nước sinh hoạt; 01 kệ xây gắn liền với ống cấp nước sinh hoạt; 03 mái che lợp tôn, sườn, trụ, khung sắt hộp; 130,7m² nền sân ba-ta, một phần nhỏ có lát gạch men; 32,37m tường rào xây bằng Block cao 1,4m chưa tô trát hoàn chỉnh; 12,88m lưới rào B40; 9,65m tường rào xây bằng gạch cao 40cm; 03 cây dừa, 01 cây xoài, 01 cây khế, 02 cây bơ, 04 cây Osaka, 04 cây chuối.
* Tại phiên tòa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn phát biểu quan điểm bảo vệ cho nguyên đơn thể hiện: Thống nhất với quan điểm trình bày về nội dung vụ án của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, khẳng định việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị R là hoàn toàn tự nguyện, không trái luật và phù hợp với đạo đức xã hội cũng như hoàn cảnh thực tế trong gia đình bà R; việc ủy quyền của bà R cho ông Nguyễn Văn N cũng hoàn toàn tự nguyện, không có căn cứ xác định có nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người được ủy quyền, hình thức ủy quyền được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật nên việc ủy quyền là hợp pháp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để giao cho bà Hoàng Thị R một phần của thửa đất tranh chấp với diện tích khoảng 100m², phần diện tích đất còn lại giao cho ông Hoàng Viết L và ông Hoàng Viết Á được quyền sử dụng và có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cấp Giấy chứng nhận.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Trị phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 161, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng các Điều 166, 169, 175, 649, 650, 651 và Điều 660 của Bộ luật Dân sự 2015; Áp dụng Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 170, Điều 179 và Điều 203 của Luật đất đai 2013Điều 11, 26, 27, 31, 37 và 236 Luật đất đai 2024; Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao cho bà Hoàng Thị R được quyền sử dụng phần đất có diện tích khoảng 100m2 tại phần đất gắn liền với nhà của ông Hoàng Viết Á và các công trình phụ của gia đình ông Hoàng Viết L. Tứ cận, ranh giới được xác định theo các điểm mốc giới cụ thể có Sơ đồ thửa đất kèm theo bản án. Buộc bị đơn ông Hoàng Viết L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, ông Hoàng Viết T và bà Trần Thị Thanh N2 phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất giao lại cho bà Hoàng Thị R; Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hoàng Viết Á, bà Đào Thị T3 và ông Hoàng Viết P1 tự tháo dỡ toàn bộ công trình nhà ở được xây dựng trên phần đất giao trả lại cho bà Hoàng Thị R.
Giao cho ông Hoàng Viết L được quyền sử dụng phần thửa đất có diện tích 226,7m², có tứ cận, ranh giới được xác định theo các điểm mốc giới cụ thể có Sơ đồ thửa đất kèm theo bản án.
Giao cho ông Hoàng Viết Á được quyền sử dụng phần đất có diện tích 226,7m², có tứ cận ranh giới được xác định theo các điểm mốc giới cụ thể có Sơ đồ thửa đất kèm theo bản án. Buộc ông Hoàng Viết L, bà Nguyễn Thị H, ông Hoàng Viết T và bà Trần Thị Thanh N2 phải tháo dỡ các phần công trình xây dựng trên phần đất giao cho ông Hoàng Viết Á được quyền sử dụng theo các mốc giới đã xác định.
Các đương sự phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,
[1] Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Xét thửa đất tranh chấp tọa lạc tại xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị nên theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có ủy quyền tham gia tố tụng và có mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà V, bà L1, bà H, bà T3, chị N2, bà N1, anh L2, anh T2 và chị D vắng mặt nhưng đều có đơn xin vắng mặt, đã có ủy quyền tham gia tố tụng và quá trình giải quyết vụ án cũng đã có ý kiến đối với các nội dung tranh chấp. Ông Hoàng V1 vắng mặt nhưng tại phiên tòa ngày 19/9/2025 đã có ý kiến ủy quyền cho ông Hoàng Viết Q thay mặt tham gia tố tụng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – UBND phường Đ đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị R về việc buộc bị đơn ông Hoàng Viết L phải tháo dỡ toàn bộ các công trình xây dựng để trả lại diện tích đất khoảng 100m² thuộc thửa đất số 446, tờ số 20 xã B, TP Đ, tỉnh Quảng Bình cũ do bị đơn chiếm dụng thấy rằng:
[2.1] Xét nguồn gốc và lịch sử biến động của thửa đất đang tranh chấp thấy rằng, theo trình bày của các đương sự thể hiện các bên đều thống nhất về nguồn gốc của thửa đất là do ông Hoàng P2 và bà Hoàng Thị R khai hoang. Nội dung này cũng phù hợp với thông tin xác nhận của UBND xã B và UBND phường Đ tại Công văn số 1726/UBND-KTHTĐT ngày 05/9/2025 và Công văn số 353/UBND ngày 06/5/2025 thể hiện, Thửa đất số 446, tờ số 20 (B), diện tích 553,2 m² là đất trồng cây lâu năm có nguồn gốc do ông, bà Hoàng P2 - Hoàng Thị R khai hoang để sử dụng trồng cây từ năm 1999, sau thời điểm đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đang sử dụng tại thửa số 248, tờ bản đồ giải thửa số 6.
Theo hồ sơ địa chính được lưu trữ thể hiện, trước năm 2001, thửa đất số 446, tờ số 20 chưa được người sử dụng đất kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai. Bởi lẽ, theo tờ bản đồ giải thửa số 6 (B) được can vẽ năm 1995 thì thửa đất đang tranh chấp nói trên thuộc một phần thửa đất số 246, diện tích 3.510m², mục đích sử dụng là đất hoang. Đến năm 2001, thửa đất được kiểm kê thuộc một phần thửa đất số 224, tờ bản đồ địa chính số 46 (B), diện tích 1.428,1m², mục đích sử dụng là đất ở và đất vườn liền kề nhà ở, chủ sử dụng đất là ông Hoàng P2 (chồng bà Hoàng Thị R). Theo Tờ bản đồ địa chính số 20 (B) đo vẽ năm 2014, thửa đất 446 được kiểm kê thuộc một phần thửa đất số 01, diện tích 1.350,5 m², mục đích sử dụng là đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm, chủ sử dụng đất là bà Hoàng Thị R. Tuy nhiên, do có tranh chấp đối với một phần của thửa đất, nên chủ sử dụng đất chỉ kê khai để đăng ký biến động đối với một phần của thửa đất số 01, Tờ bản đồ địa chính số 20 (nguyên là tại thửa số 248, tờ bản đồ giải thửa số 06 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 11/02/1998 mang tên ông Hoàng P2). Phần còn lại của thửa đất số 01, Tờ bản đồ địa chính số 20 được kiểm kê lại thành Thửa đất số 446, tờ số 20 (B), diện tích 553,2 m² và có tranh chấp cho đến nay.
[2.2] Xét việc quy chủ thửa đất số 446, tờ số 20 (B) thấy rằng, các đương sự ngoại trừ bị đơn đều thừa nhận, thửa đất đã được quy chủ cho bà Hoàng Thị R. Nội dung thừa nhận này phù hợp với thông tin cung cấp của UBND phường Đ tại Công văn số 1726/UBND-KTHTĐT ngày 05/9/2025 thể hiện, năm 2014 Thửa đất số 446, tờ số 20 (B), mục đích sử dụng là đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm, chủ sử dụng đất là bà Hoàng Thị R. Theo xác nhận của UBND xã B cũ tại Công văn số 353/UBND ngày 06/5/2025 thể hiện, Thửa đất số 446, tờ bản đồ số 20 hiện nay theo bản đồ địa chính năm 2001 thuộc một phần thửa đất số 224, tờ bản đồ số 46 quy chủ cho ông Hoàng P2 (chồng bà Hoàng Thị R), theo bản đồ địa chính năm 2014 thuộc một phần thửa đất số 01, tờ bản đồ số 20 quy chủ cho bà Hoàng Thị R. Lời khai của ông Hoàng Viết Q thể hiện, thửa đất tranh chấp nguyên là phần đất liền kề với thửa đất số 248, tờ bản đồ giải thửa số 06 và được kiểm kê vào thửa đất số 224, tờ bản đồ địa chính số 46 (B) vào năm 2001. Năm 2006, ông P2 chết, các anh chị em trong gia đình thống nhất giao toàn bộ thửa đất cho bà R được toàn quyền định đoạt, nhưng, ở thời điểm đó, trên 1 phần của thửa đất đã được công L và ông Á sử dụng để xây dựng các công trình nhà ở. Quá trình ông L, ông Á xây dựng các công trình cũng đã bị chính quyền địa phương xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hành vi xây dựng công trình trái phép trên đất trồng cây lâu năm. Tại Công văn số 26/TAND ngày 29/5/2025, Tòa án có đề nghị UBND xã B cung cấp thông tin liên quan đến việc quy chủ thửa đất với nội dung “Lý do vì sao năm 2001 thửa đất 224, tờ bản đồ số 46 (nay thửa đất số 1, tờ bản đồ số 20) được quy chủ cho ông Hoàng P2 nhưng đến năm 2014 được quy chủ cho bà Hoàng Thị R? Căn cứ của việc thay đổi chủ sử dụng đất?”, nhưng UBND xã không cung cấp được thông tin này. Tại Văn bản thỏa thuận phân chia di sản được Phòng C tỉnh Quảng Bình lập ngày 05/9/2022 thể hiện, các đồng thừa kế của ông Hoàng P2 thống nhất giao di sản là ½ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong khối di sản chung với bà Hoàng Thị R là thửa đất số 248, Tờ bản đồ số 6 xã B cũ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 11/02/1998 mang tên ông Hoàng P2 cho bà Hoàng Thị R được hưởng. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cũng không cung cấp được tài liệu thể hiện rõ ràng về việc quy chủ đối với thửa đất 446 cho bà Hoàng Thị R vào năm 2014.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, việc quy chủ thửa đất cho bà Hoàng Thị R theo xác nhận của UBND xã B cũ và UBND phường Đ, tỉnh Quảng Trị là thiếu căn cứ vững chắc. Do đó, cần xác định Thửa đất số 446, tờ số 20 (B) đang là di sản chưa chuyển quyền của ông Hoàng P2 và các đồng thừa kế của ông Hoàng P2 vẫn có quyền phát sinh từ quyền thừa kế đối với thửa đất. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, các đồng thừa kế và thừa kế chuyển tiếp của ông Hoàng P2 đều xác nhận nội dung đồng ý giao toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp cho bà Hoàng Thị R được toàn quyền định đoạt, không có yêu cầu độc lập hay tranh chấp gì với bà R. Bị đơn ông Hoàng Viết L cho rằng, thời điểm gia đình ông trực tiếp sử dụng phần đất đang tranh chấp là từ năm 2002, nhưng ông là người cùng bố mẹ khai hoang thửa đất và đã sử dụng ổn định từ năm 2002 cho đến nay, nên đề nghị xem xét lại nguồn gốc và quá trình sử dụng đất để công nhận quyền sử dụng của gia đình ông đối với phần đất đang tranh chấp. Vì vậy, cần xem xét ghi nhận ý kiến này của bị đơn để xem xét, khi giải quyết yêu cầu của nguyên đơn.
[2.3] Xét quá trình sử dụng đất và tạo dựng tài sản trên đất thấy rằng, ông Hoàng Viết L thừa nhận, năm 2002 ông L trực tiếp trồng cây và dựng bi làm mống để kè chắn bảo vệ cho khuôn viên đất. Đến năm 2017, ông L đã làm ngôi nhà hiện tại trên thửa đất và sử dụng ổn định cho đến nay. Đến năm 2024, con trai ông L là ông T có làm thêm 01 ngôi nhà trên đất để vợ chồng T sử dụng. Lời khai này phù hợp với xác nhận của UBND phường Đ tại Công văn số 1726/UBND-KTHTĐT ngày 05/9/2025, theo đó thể hiện, ông Hoàng Viết L xây dựng công trình nhà tại thửa đất nói trên từ năm 2017. Như vậy, có đủ căn cứ xác định, trước thời điểm ông Hoàng Viết L trực tiếp sử dụng phần đất tranh chấp, thì thửa đất đang thuộc một phần của thửa số 01, Tờ bản đồ số 20 xã B, đã được quy chủ cho ông Hoàng P2 vào năm 2001. Quá trình sử dụng đất, người trực tiếp sử dụng đất không tiến hành kê khai, đăng ký quyền sử dụng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm pháp luật về đất đai và người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai cho nhà nước đối với thửa đất là bà Hoàng Thị R (thể hiện tại các Biên lai nộp thuế tiền sử dụng đất).
Theo quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật đất đai năm 2024 thì sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sử dụng đất ổn định. Hơn nữa, tại Điều 95 Luật Đất đai 2013Điều 131 Luật Đất đai 2024 đều quy định, việc đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất. Tại Điều 234 của Bộ luật dân sự 2015 quy định, việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thừa kế. Điều 175 và Điều 236 của Bộ luật dân sự quy định, việc xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định việc chiếm hữu và sử dụng đất ông Hoàng Viết L, ông Hoàng Viết T và ông Hoàng Viết Á là không phù hợp với quy định của pháp luật nên ý kiến của bị đơn về việc công nhận quyền sử dụng đối với phần đất tranh chấp không có cơ sở để được chấp nhận.
[2.4] Xét quy hoạch sử dụng đất liên quan đến thửa đất tranh chấp thấy rằng, tại Công văn số 1726/UBND-KTHTĐT ngày 05/9/2025 UBND phường Đ không có ý kiến đối với nội dung thửa đất có vi phạm quy hoạch sử dụng đất hay không và có đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không trong trường hợp tranh chấp đã được Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, theo Quyết định số 1397/QĐ-UBND ngày 27/5/2024 về việc điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Đ và vùng phụ cận đến năm 2045 và Quyết định số 2719/QĐ-UBND ngày 24/9/2025 về việc phê duyệt quy hoạch phân khu xã B, thành phố Đ của UBND tỉnh Q cũ thì thửa đất tranh chấp nằm trong quy hoạch sử dụng đất với mục đích hỗn hợp, không vi phạm quy hoạch. Vì vậy, theo quy định tại Điều 137 Luật đất đai 2024, thửa đất thuộc trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khi người sử dụng đất thực hiện đúng các quy định để đủ điều kiện tương ứng với loại đất. Và các bên liên quan có quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các phần đất được giao sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
[3] Xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Viết T, bà Trần Thị Thanh N2 và bà Nguyễn Thị H về việc không đồng ý tháo dỡ các phần công trình đã xây dựng trên đất, đề nghị tách phần diện tích đất hiện đang có nhà để công nhận quyền sử dụng đất thấy rằng, những người này không phải là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoàng P2 nên không có quyền tài sản phát sinh từ quyền thừa kế đối với thửa đất. Mặt khác, các đồng thừa kế khác của ông Hoàng P2 đã đồng ý giao lại toàn bộ quyền thừa kế đối với thửa đất tranh chấp cho bà Hoàng Thị R được toàn quyền định đoạt, không có tranh chấp. Nguyên đơn bà Hoàng Thị R chỉ chấp nhận giao lại một phần của thửa đất tranh chấp cho ông Hoàng Viết L sử dụng. Vì vậy, ý kiến của ông T, bà N2 và bà H không có cơ sở để được chấp nhận.
[4] Về việc xử lý tài sản trên đất: Xét bà Hoàng Thị R chỉ yêu cầu nhận lại một phần của thửa đất tranh chấp với diện tích khoảng 100m² và buộc chủ sở hữu tài sản phải tháo dỡ toàn bộ các công trình xây dựng trên phần đất giao trả cho bà R được quyền sử dụng. Quá trình giải quyết vụ án, ông Hoàng Viết Á và những người liên quan đến căn nhà do vợ chồng ông Á tạo dựng trên đất đồng ý tháo dỡ toàn bộ để trả đất cho bà Hoàng Thị R nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của các đương sự. Theo mục [2.3] đã phân tích xác định, việc tạo dựng tài sản trên thửa đất tranh chấp là vi phạm pháp luật về đất đai. Do đó, cần buộc bị đơn ông Hoàng Viết L và những người liên quan đến các công trình trên phần đất giao trả cho bà Hoàng Thị R phải tháo dỡ là có căn cứ. Tuy nhiên, xét hiện trạng tài sản trên thửa đất tranh chấp thể hiện, có 03 căn nhà cấp 4, trong đó nhà của vợ chồng ông Hoàng Viết L có một số công trình phụ không gắn liên với nhà chính được gia đình ông Hoàng Viết L và gia đình ông Hoàng Viết T sử dụng chung. Ông Hoàng Viết Á và những người liên quan tự nguyện đồng ý tháo dỡ toàn bộ căn nhà, phần đất gắn liền với nhà này có thể thông ra đường đi chung và ở phần sau của thửa đất tranh chấp. Vì vậy, cần giao phần đất gắn liền với căn nhà của vợ chồng ông Hoàng Viết Á và một số công trình phụ của vợ chồng ông Hoàng Viết L cho bà Hoàng Thị R được quyền sử dụng, đồng thời buộc ông Hoàng Viết L và bà Nguyễn Thị H, ông Hoàng Viết T phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất là phù hợp. Đối với các phần công trình nằm trên phần đất được giao cho ông Hoàng Viết Á sử dụng cũng cần buộc chủ sở hữu tài sản tháo dỡ. Đối với các cây trồng trên đất, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.
Từ những nội dung phân tích trên có đủ cơ sở xác định, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ cần được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí vụ kiện và chi phí tố tụng đã chi trả.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, Điều 161, Điều 165, các Điều 227, Điều 244, Điề 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng các Điều 163, 164, 166, 169, 175, 234, 236, 649, 650, 651 và Điều 660 của Bộ luật Dân sự 2015;
Áp dụng Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 170, Điều 179 và Điều 203 của Luật đất đai 2013Áp dụng các Điều 26, 27, 31, 37, 132, 135, 136, 137, 141, 142, 235, 236 của Luật đất đai 2024;
Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Hoàng Thị R.
- 1.1 - Giao cho bà Hoàng Thị R được quyền sử dụng phần đất có diện tích đất 101,8m² thuộc thửa đất số 446, Tờ bản đồ số 20 xã B cũ. Tứ cận, kích thước cạnh thửa được xác định theo các điểm mốc giới: A - B - 7 - 6 - 5 - A (được thể hiện tại Sơ đồ kèm theo);
- - Buộc ông Hoàng Viết L phải tháo dỡ các công trình gồm: 01 công trình phụ diện tích 5,1m²; 01 bể phốt; 04 trụ bê tông gắn liền với bể chứa nước bằng inox gắn liền với ống cấp nước sinh hoạt; 01 kệ xây gắn liền với ống cấp nước sinh hoạt; một phần mái tôn có diện tích 17,8m² gắn liền với 01 trụ sắt và 01 trụ bê tông, xà gồ sắt; diện tích nền sân đỗ ba-ta và một phần được lát gạch men trên phần đất phải giao trả; 05m tường rào xây bằng gạch Block gắn liền với lưới B40, để trả lại cho bà Hoàng Thị R diện tích đất 55,5m² thuộc thửa đất số 446, Tờ bản đồ số 20 xã B cũ;
- - Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hoàng Viết Á, bà Đào Thị T3 và ông Hoàng Viết P1 về việc tự tháo dỡ phần công trình nhà ở và các tài sản, vật kiến trúc gắn liền có diện tích 33,1m² để trả lại cho bà Hoàng Thị R diện tích đất 46,3m² thuộc thửa đất số 446, Tờ bản đồ số 20 xã B cũ.
- 1.2 - Giao cho ông Hoàng Viết L được quyền sử dụng phần thửa đất có diện tích 227,6m² đất thuộc thửa đất số 446, Tờ bản đồ số 20 xã B cũ. Tứ cận, kích thước cạnh thửa được xác định theo các điểm mốc giới: 1 - C - D - A - 4 - 3 - 2 - 1 (được thể hiện tại Sơ đồ kèm theo).
- 1.3 - Giao cho ông Hoàng Viết Á được quyền sử dụng phần đất có diện tích 227,6m² đất thuộc thửa đất số 446, Tờ bản đồ số 20 xã B cũ. Tứ cận, kích thước cạnh thửa được xác định theo các điểm mốc giới: C - 9 - 8 - B - D - C (được thể hiện tại Sơ đồ kèm theo).
- - Buộc ông Hoàng Viết L, bà Nguyễn Thị H, ông Hoàng Viết T và Trần Thị Thanh N2 bà phải tháo dỡ các phần công trình xây dựng trên phần đất giao cho ông Hoàng Viết Á được quyền sử dụng theo các mốc giới đã xác định. Cụ thể gồm: 12,88m lưới rào B40; 9,65m tường rào xây bằng gạch cao 40cm; 26m² nền sân đỗ ba-ta và 13,6m² mái tôn gắn liền với các trụ sắt và khung sườn sắt gắn liền với mái tôn.
- (Ranh giới, mốc giới, Tọa độ mốc giới, kích thước cạnh thửa của các phần đất được thể hiện tại Sơ đồ thửa đất kèm theo Bản án và là một phần không thể tách rời của Bản án).
- 2. Các đương sự có quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các phần đất được giao quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
- 3. Về án phí: Buộc ông Hoàng Viết L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- 4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Hoàng Viết L phải nộp 13.300.000 đồng tiền chi phí tố tụng để hoàn trả cho ông Hoàng Viết Á do ông Á đã nộp thay cho bà Hoàng Thị R toàn bộ chi phí tố tụng và đã chi đủ.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong toàn bộ khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- 5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (30/11/2025). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lê Quang Minh |
Bản án số 36/2025/DSST ngày 30/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I – QUẢNG TRỊ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 36/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I – QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA DSST SỐ 36-2025 HOÀNG THỊ R - HOÀNG VIẾT L
