|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 359/2025/DS-PT Ngày: 28/11/2025 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: | Ông Đặng Ngọc Bình |
| Các Thẩm phán: | Ông Dư Thành Trung |
| Bà Nguyễn Thị Bích Thảo |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Huyền Trang- Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 167/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 7 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2025/DSST ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà nay là Tòa án nhân dân khu vực 3-Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 521/2025/QĐ-PT ngày 13-11-2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1975 (Chết ngày 09/9/2025).
Bà Triệu Thị L, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn E, xã P, tỉnh Lâm Đồng (xã T cũ); Vắng mặt.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Hoàng Văn H:
Bà Triệu Thị L, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn E, xã P, tỉnh Lâm Đồng (xã T cũ). Vắng mặt.
Chị Hoàng Thị L1, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 2021; Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Triệu Thị L: Ông Phạm Minh P, sinh năm 1987; địa chỉ Thôn F, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị đơn: Vợ chồng ông Lê Ngọc D, sinh năm 1984; bà Lê Thị P1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lâm Đồng (xã T cũ); Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Vợ chồng ông Hoàng Văn N, sinh năm 1966; bà Lục Thị Đ, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn E, xã P, tỉnh Lâm Đồng (xã T cũ); ông N vắng mặt, bà Đ có mặt.
- + Vợ chồng ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1973; bà Nguyễn Thị Ngọc Đ1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lâm Đồng (xã T cũ); ông T có mặt, bà N vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L trình bày: ông bà là chủ sử dụng các thửa đất 747, 316 và 317 cùng thuộc tờ bản đồ 29 xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Giáp ranh với các thửa đất của ông bà là thửa 684, 476 và 475 cùng thuộc tờ bản đồ 29, xã T, huyện L của ông N, bà Đ. Sau đó năm 2021 ông N, bà Đ chuyển nhượng lại toàn bộ các thửa 684, 476 và 475 cùng thuộc tờ bản đồ 29, xã T cho ông D, bà P1. Quá trình sử dụng thì ông D, bà P1 đã lấn sang đất của ông bà. Vì vậy, ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông D, bà P1 phải trả phần diện tích đất đã lấn chiếm của ông bà. Trong thực tế trước đây giữa đất nhà ông bà với đất nhà ông N, bà Đ được ngăn cách với nhau là 01 con đường có chiều rộng khoảng 02 m kéo dài từ mặt đường đến cây ca ri ở gần cuối vườn, con đường này tồn tại từ những năm 1997-1998 cho đến năm 2020, con đường này thuộc phần đất của ông N, bà Đ, tiếp giáp với con đường về phần đất nhà ông H, bà L có 01 hàng dâu do ông H trồng, tiếp giáp với con đường này về phía nhà ông N, bà Đ có 01 hàng cà phê. Năm 2020 thì hai bên phá hàng dâu của nhà ông H, bà L để mở rộng con đường sang phía nhà ông H, bà L khoảng 1,5m để cho xe ben đi đổ đất vào phần ruộng phía cuối vườn của cả hai gia đình. Năm 2021, ông N, bà Đ chuyển nhượng đất cho ông D, bà P1, sau khi nhận chuyển nhượng thì ông D, bà P1 đã cho múc 01 rãnh trên con đường cũ nhưng lại múc rãnh trên vị trí đất của nhà ông H, bà L (rãnh từ vị trí hàng dâu cũ của ông H, bà L kéo sang đất của ông H, bà L 1,5m). Theo đơn khởi kiện thì ông bà yêu cầu ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P1 phải trả cho ông bà diện tích đất đã lấn chiếm có chiều rộng khoảng 2,3m thuộc một phần thửa 747, tờ bản đồ 29 và diện tích đất lấn chiếm có chiều rộng khoảng 3,3m thuộc một phần thửa 316 tờ bản đồ 29, cùng tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, đến nay ông bà yêu cầu Tòa án
giải quyết buộc ông D, bà P1 phải trả cho ông bà diện tích đất theo họa đồ đo đạc ngày 24/6/2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L cung cấp là 564m² trong đó có 33m² thuộc một phần thửa 457, 16m² thuộc một phần thửa 316, 224m² thuộc một phần thửa 476, 184m² thuộc một phần thửa 316, 98m² thuộc một phần thửa 747 và 09m² thuộc một phần thửa 684, tất cả cùng tờ bản đồ 29 xã T, huyện L, Lâm Đồng. Ngoài ra, ông, bà không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn vợ chồng ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P1 trình bày: Vợ chồng ông bà là chủ sử dụng 684, 476 và 475 cùng thuộc tờ bản đồ 29, xã T, huyện L, nguồn gốc ông bà nhận chuyển nhượng lại của ông N, bà Đ vào năm 2020. Quá trình sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng đến nay ông bà không lấn đất của ông H, bà L, nhận chuyển nhượng thế nào thì ông bà sử dụng như vậy, có nghĩa là từ khi nhận chuyển nhượng đến nay ông bà sử dụng theo đúng ranh giới ông N, bà Đ giao cho. Giữa tháng 5/2022 hai bên thống nhất kéo dây để địa chính xã vào làm việc, hai bên đã thống nhất ranh giới nên ngày hôm sau vợ ông bà đã cho máy múc múc 01 con mương có chiều rộng khoảng 20-30cm để làm mương thoát nước và mép mương phía giáp nhà ông H, bà L là ranh giới giữa hai nhà, con mương này hiện nay vẫn còn. Ông D, bà P1 khẳng định ông bà múc rãnh là múc trên phần đất ông bà đã nhận chuyển nhượng của ông N, bà Đ, không múc lấn sang đất nhà ông H, bà L. Vì vậy, việc ông H, bà L khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bà phải trả 564m² trong đó có 33m² thuộc một phần thửa 457, 16m² thuộc một phần thửa 316, 224m² thuộc một phần thửa 476, 184m² thuộc một phần thửa 316, 98m² thuộc một phần thửa 747 và 09m² thuộc một phần thửa 684, tất cả cùng tờ bản đồ 29 xã T, huyện L, Lâm Đồng thì ông bà không đồng ý vì ông bà không lấn chiếm đất của ông H, bà L. Ngoài ra, bị đơn không trình bày gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lục Thị Đ trình bày: Về nguồn gốc của các thửa đất là vào năm 1991 chồng bà Đ là ông Hoàng Văn N vào xã T khai hoang đất theo một số người Hà Tĩnh, sau đó ông N có đưa em trai là ông Hoàng Văn H vào theo cùng khai hoang đất. Đến tháng 3/1995 thì anh em chia đất để làm, lúc đó ông H được chia khoảng 1,6 ha còn của vợ chồng ông N, bà Đ khoảng 1,9ha, tháng 5/1995 thì làm nhà cho ông H. Vị trí đất của hai anh em là tiếp giáp với nhau. Tại thời điểm năm 1995 thì hai nhà có trồng một hàng dâu (ông H là người trồng) để làm ranh giới phần đất của hai nhà. Sau khi hai nhà chia đất thì ông bà có chừa 01 lối đi tính từ hàng dâu sang phía đất nhà ông bà có chiều rộng là 04m kéo dài hết đất để làm con đường đi xuống vườn nhà ông bà. Đến năm 1997 thì đất được đo đạc và năm 1999 thì cả 02 nhà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng ông bà được cấp diện tích 19.035m² thuộc thửa 475,
476 tờ bản đồ 29 xã T vào ngày 27/7/1999, đến năm 2011 vợ chồng ông bà được cấp diện tích 6.048m² thuộc thửa 684, tờ bản đồ 29, xã T, huyện L. Còn nhà ông H, bà L năm 1999 được cấp thửa 316, 317 tờ bản đồ 29 diện tích 16.635m². Năm 2021 thì ông H, bà L được cấp thêm thửa 747 tiếp giáp với thửa 316. Quá trình sử dụng thì ông H đã phá bớt hàng dâu và đến năm 2021 ông H, bà L bán đất cho ông T, bà Đ1 thì ông T, bà Đ1 đã cày hết hàng dâu lên. Về phía đất bên nhà ông bà cũng năm 2021 sau khi nhà ông H, bà L bán đất cho ông T, bà Đ1 thì vợ chồng ông bà cũng đã chuyển nhượng lại diện tích đất thuộc thửa 475, 476 và 684 của vợ chồng ông bà cho anh D, chị P1. Khi chuyển nhượng thì bà cũng đã chỉ ranh giới cho anh D, chị P1, lúc này mặc dù hàng dâu không còn nhưng phía cuối vườn vẫn có 01 cây cari do ông H trồng hiện nay vẫn còn là ranh giới phía cuối vườn giữa hai nhà, còn phía trên tại thời điểm chuyển nhượng thì vẫn còn đường, nhưng đến nay các bên đã cày lên hết, đến nay thì vẫn còn mép đường từ ngày trước làm ranh giới, mép đường chính là mép của rãnh nước về phía đất của ông H, bà L.
Nay ông H, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh Lê Ngọc D, chị Lê Thị P1 phải trả cho ông H, bà L diện tích đất có chiều rộng khoảng 2,3m thuộc một phần thửa 747, tờ bản đồ 29 và diện tích đất có chiều rộng khoảng 3,3m thuộc một phần thửa 316 tờ bản đồ 29, cùng tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì theo bà Đ là không có căn cứ vì anh D, chị P1 chỉ sử dụng đúng phần diện tích đất đã nhận chuyển nhượng của ông N, bà Đ. Sau khi chuyển nhượng đất cho anh D, chị P1 thì bà Đ vẫn ở nhờ trên đất này nên bà Đ biết anh D, chị P1 không lấn đất của ông H, bà L. Hiện nay bà Đ đã chuyển nhượng đất này cho anh D, chị P1 nên bà Đ không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T, bà Nguyễn Thị Ngọc Đ1 trình bày: Năm 2021 vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng một phần thửa đất số 747, 316, 317 của ông H, bà L. Phần đất ông bà nhận chuyển nhượng có vị trí giáp ranh với đất của ông D, bà P1. Việc ông H, bà L tranh chấp đất với ông D, bà P1 thì ông bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Đồng thời, ông bà đề nghị Tòa án sớm giải quyết để kết thúc vụ án để ông H, bà L làm thủ tục tách thửa để chuyển nhượng cho ông bà theo quy định, vì đất tranh chấp nên vợ chồng ông bà mua từ năm 2021, sử dụng từ năm 2021 nhưng không làm được thủ tục chuyển nhượng để đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2025/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng đã tuyên xử:
“1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P1.”
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí trách nhiệm thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 20/6/2025, nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Để nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Bản án sơ thẩm số 45/2025/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà theo hướng sửa bản án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải trả 266m² đất và giữ nguyên kháng cáo đề nghị chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện còn lại, buộc ông D, bà P1 phải trả cho ông bà diện tích đất theo họa đồ đo đạc ngày 24/6/2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L cung cấp là 298m² trong đó có 16m² thuộc một phần thửa 316, 184m² thuộc một phần thửa 316 và 98m² thuộc một phần thửa 747 tất cả cùng tờ bản đồ 29 xã T, huyện L, Lâm Đồng.
Bị đơn ông D, bà P1, bà Đ, ông T đồng ý việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông D, bà P1, bà Đ đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ông T đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng Dân sự, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2025/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 298m² đất lấn chiếm và đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện do nguyên đơn rút yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L đúng thời hạn luật định, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Triệu Thị L vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị L1, chị Hoàng Thị H1 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn N, bà Nguyễn Thị Ngọc Đ1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P2 phải trả diện tích đất 564 m² đã lấn chiếm nên Tòa cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26 của bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu khởi kiện và kháng cáo của của nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L:
[4.1] Về nguồn gốc sử dụng đất của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguồn gốc đất tranh chấp là do hai anh em ông Hoàng Văn H và ông Hoàng Văn N cùng khai phá năm 1991, được phần chia làm hai phần cụ thể như sau:
Phần đất của ông H có diện tích 16.635m² gồm các thửa 316 có diện tích 14.060m², thửa 317 có diện tích 2.575m² và thửa 747 có diện tích 3.445m² cùng thuộc tờ bản đồ 29, xã T, huyện L đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P345209 ngày 27/7/1999 đối với thửa 316, 317 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB816955 ngày 22/4/2021 đối với thửa 747.
Phần đất của ông Hoàng Văn N, có diện tích 25.119m² gồm các thửa 475 có diện tích 3.385m² và thửa 476 có diện tích 15.650m² và thửa 684 có diện tích 6084m² cùng thuộc tờ bản đồ 29, xã T, huyện L đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P345058 ngày 27/7/1999 đối với thửa 475, 476 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 302584 ngày 29/8/2011 đối với thửa 684.
Ngày 15/11/2021, ông Hoàng Văn N cùng vợ là bà Lục Thị Đ chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 475, 476 và 684 tờ bản đồ 29 xã T cho ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P1. Quá trình chuyển nhượng các bên có lập hợp đồng chuyển nhượng và được chứng thực theo quy định. ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P1 đã đăng ký biến động và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai xác nhận.
Trong quá trình sử dụng đất từ năm 1991 đến trước thời điểm ông N, bà Đ chuyển nhượng cho ông D, bà P1 vào tháng 11/2021, ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L với ông Hoàng Văn N, bà Lục Thị Đ sử dụng ổn định, không có tranh chấp và phù hợp với quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên như đã nêu trên. Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận từ năm 1997 tại khu vực giáp ranh giữa đất của hai hộ có một con đường rộng khoảng 3m đi xuống phần đất sình, một bên giáp hàng dâu do ông H trồng, một bên giáp hàng cà phê của ông N, cuối vườn có cây cà ri làm mốc ranh. Đây là tình tiết các bên đều thừa nhận nên không cần phải chứng minh.
Như vậy, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông H, bà L và ông N, bà Đ là đúng quy định của pháp luật.
[4.2] Về quá trình tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn với bị đơn:
Theo ý kiến của nguyên đơn ông H, bà L thì sau khi mua đất ông D, bà P1 múc mương nước dọc theo ranh giới giữa các bên đã làm thay đổi ranh giới sử dụng đất và lấn chiếm sang phần đất ông H, bà L. Phía bị đơn D, bà P1 cho rằng việc ông, bà múc mương nước là trên phần đất nhận chuyển nhượng từ ông N, bà Đ.
Tuy nhiên, ông D, bà P1, bà Đ thừa nhận vị trí đào mương nước là đường đi. Bà Đ cho rằng đường đi là do vợ chồng ông, bà tự chừa phần đất của mình để làm lối đi.
[4.3] Theo họa đồ đo đạc ngày 24/6/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L thể hiện diện tích đất tranh chấp là 564m² trong đó có 33m² thuộc một phần thửa 457, 16m² thuộc một phần thửa 317, 224m² thuộc một phần thửa 476, 184m² thuộc một phần thửa 316, 98m² thuộc một phần thửa 747 và 09m² thuộc một phần thửa 684 cùng tờ bản đồ 29, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Về hiện trạng đất tranh chấp thể hiện là 01 mương nước do ông D, bà P1 đã múc kéo từ mép đường bê tông đến cây cà ri; chiều ngang được tính từ mép mương nước về phía đất ông H chiều ngang mặt đường là 2,3m.
Đối chiếu theo họa đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp thì một phần diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông H, bà L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cụ thể là 16m² thuộc một phần thửa 317, 184m² thuộc một phần thửa 316; 98m² thuộc một phần thửa 747, tờ bản đồ 29 xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, có căn cứ xác định ông D, bà P1 trong quá trình đào mương nước đã lấn chiếm sang phần đất của ông H, bà L.
Tòa cấp sơ thẩm căn cứ kết quả hòa giải, thống nhất ranh giới giữa ông H, bà L với ông D, bà P1 để bác khởi kiện là chưa đúng quy định của pháp luật.
[4.4] Từ những phân tích nêu trên, cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông H, bà L, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2025/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn diện tích đất cụ thể là 16m² thuộc một phần thửa 317, 184m² thuộc một phần thửa 316 và 98m² thuộc một phần thửa 747 tờ bản đồ 29 xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
[4.5] Đối với việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn
phải trả 266m² đất tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý nên cần đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn theo quy định tại Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc nguyên đơn, bị đơn mỗi bên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại nguyên đơn số tiền đã tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 45/2025/DS-ST ngày 06-6-2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm đồng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Hoàng Văn H là bà Triệu Thị L chị Hoàng Thị L1, chị Hoàng Thị H1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P1.
Buộc bị đơn ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P1 phải trả cho nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Hoàng Văn H là bà Triệu Thị L chị Hoàng Thị L1, chị Hoàng Thị H1 diện tích đất 16m² thuộc một phần thửa đất số 317; 184m² thuộc một phần thửa đất số 316; 98m² thuộc một phần thửa đất số 747, tờ bản đồ 29 xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, tổng cộng là 298m².
(Có Họa đồ đo đạc ngày 24/6/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L kèm theo bản án)
2. Đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn H, bà Triệu Thị L, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Hoàng Văn H là bà Triệu Thị L, chị Hoàng Thị L1, chị Hoàng Thị H1 đối với yêu cầu buộc bị đơn ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P1 trả lại diện tích 33m² thuộc một phần thửa 457, 224m² thuộc một phần thửa 476 và 09m² thuộc một phần thửa 684 cùng tờ bản đồ 29 xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc ông Lê Ngọc D, bà Lê Thị P1 phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc bà Triệu Thị L, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Hoàng Văn H là là Triệu Thị L, chị Hoàng Thị L1, chị Hoàng Thị H1 phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 2.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005204 ngày 30/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà nay là Phòng thi hành án khu vực 3, tỉnh Lâm Đồng. Hoàn trả lại cho bà Triệu Thị L, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Hoàng Văn H là Bà Triệu Thị L, chị Hoàng Thị L1, chị Hoàng Thị H1 số tiền 2.200.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005204 ngày 30/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà nay là Phòng thi hành án khu vực 3, tỉnh Lâm Đồng.
- Hoàn trả lại cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Hoàng Văn H là bà Triệu Thị L, chị Hoàng Thị L1, chị Hoàng Thị H1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000232 ngày 11/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Hoàn trả lại cho bà Triệu Thị L số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000085 ngày 09/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Đặng Ngọc Bình |
Bản án số 359/2025/DS-PT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 359/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
