Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - NINH BÌNH

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày 18-11-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Phương Thảo

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thế Bình.
  2. Ông Nguyễn Văn Chuyết.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký viên TAND khu vực 9 - Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2025/TLST- HS ngày 27 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

* Họ và tên: Bùi Văn P. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 13/02/1983 tại tỉnh Ninh Bình. Nơi thường trú: 1 T, phường N, tỉnh Ninh Bình. Nơi ở hiện tại: tổ dân phố V, phường V, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Đảng đoàn: không. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ học vấn: 03/12. Họ và tên cha: Bùi Văn M, sinh năm 1947 (đã chết). Họ và tên mẹ: Phạm Thị T, sinh năm 1946, trú tại tổ dân phố V, phường V, tỉnh Ninh Bình. Gia đình có 06 chị em, bị cáo là thứ con sáu; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987; Con: có 01 con sinh năm 2007. Hiện vợ và con bị cáo đang trú tại phường H, tỉnh Ninh Bình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 30/12/2022: Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 26/2022/QĐ-XLHC, thời gian chấp hành 24 tháng.

Nhân thân:

  • Ngày 25/12/2015: Công an Phường B, thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản".
  • Ngày 29/12/2015: Công an Phường B, thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Ngày 30/12/2015: Công an phường T, thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý".
  • Ngày 27/12/2016: Công an Phường B, thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý".
  • Ngày 24/11/2017: Công an Phường B, thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản".
  • Ngày 07/12/2017: Công an Phường B, thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản"
  • Ngày 31/7/2019: Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc số 23, thời gian chấp hành 24 tháng.
  • Ngày 02/12/2022: Ủy ban nhân dân phường B, thành phố N ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn S, thời gian áp dụng 03 tháng.
  • Ngày 05/12/2022: Công an Phường B, thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 350.000 đồng về hành vi “Đánh bạc"

Bị cáo Bùi Văn P bị bắt tạm giam từ ngày 27/8/2025 theo Lệnh bắt bị cáo để tạm giam số B603 ngày 26/8/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, thời hạn tạm giam 02 tháng từ ngày bắt. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 03 - Công an tỉnh N. Có mặt

* Người chứng kiến:

  • Ông Phạm Quang H, sinh năm 1960, nơi thường trú: 22 Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
  • Ông Nguyễn Quang H1, sinh năm 1963, nơi thường trú: 7 T, phường N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
  • Ông Trần Hùng S, sinh năm 1967, nơi thường trú: 15A3 tầng 3, số C P, phường N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
  • Ông Phạm Duy T2, sinh năm 1964, nơi thường trú: Số H P, phường N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 17/8/2025, tổ công tác của Công an phường N, tỉnh Ninh Bình làm nhiệm vụ tại khu vực chợ 5 tầng phường N, tỉnh Ninh Bình phát hiện Bùi Văn P, sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú tại 12/5 T, phường N, tỉnh Ninh Bình, nơi ở hiện nay tổ dân phố V, phường V, tỉnh Ninh Bình có biểu hiện nghi vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác mời người chứng kiến và tiến hành kiểm tra hành chính đối với P, kết quả trên người P không có ma tuý. Quá trình kiểm tra, P khai nhận bản thân đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện của Công an phường V, tỉnh Ninh Bình. Công an phường N tiến hành test nhanh mẫu nước tiểu của P cho kết quả: Dương tính với ma tuý (Heroine) và tiến hành thu mẫu nước tiểu của Bùi Văn P ký hiệu T05 để tiến hành trưng cầu giám định.

Tại Bản Kết luận giám định số 618/KL-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh N, kết luận: Có tìm thấy các chất gồm Morphine, C và 6-MAM trong 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu T05 gửi giám định. Morphine, C1 và 6-MAM là các sản phẩm chuyển hoá của Heroine (Heroin) trong nước tiểu.

Quá trình điều tra xác minh làm rõ: Bùi Văn P là người nghiện ma tuý. Ngày 30/12/2022, P bị Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 26/2022/QĐ-XLHC trong thời hạn 24 tháng. Ngày 05/12/2024, P chấp hành xong và trở về địa phương. Hiện tại, P đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 26/3/2025 của Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường V, tỉnh Ninh Bình), thời gian quản lý từ ngày 26/3/2025 đến 26/3/2027.

Quá trình điều tra, Bùi Văn P khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/8/2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, P một mình đi bộ ra khu vực cổng Bệnh viện Đ, tại Khu đô thị M, phường T, tỉnh Ninh Bình thuê xe ôm đi đến đến khu vực chợ E tầng thuộc phường N, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi đến khu vực chợ E tầng P bảo xe ôm đứng ngoài chờ rồi một mình đi vào ngách nhỏ (P không nhớ dịa chỉ cụ thể) thì gặp một người đàn ông cao khoảng 1m55, dáng người béo, khoảng 40 tuổi, mặc áo phông xanh cộc tay cổ tròn, quần dài tối màu, đeo khẩu trang kín mặt, giới thiệu tên là B. P đặt vấn đề mua ma tuý của B với giá 100.000 đồng, B đồng ý. B cầm tiền rồi đưa cho P 01 gói ma túy bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chất ma túy (Heroine). P cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải rồi tiếp tục đi xe ôm về nơi ở của P tại Tổ dân phố V, phường V, tỉnh Ninh Bình để sử dụng ma tuý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, P về đến nhà, vào nhà vệ sinh khoá trái cửa để sử dụng ma tuý bằng hình thức hút. Cụ thể, P mở gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa ma túy (H2) rồi dùng bật lửa chuẩn bị từ trước hơ bên dưới giấy bạc và dùng miệng hút khói trực tiếp vào trong cơ thể. Sau khi sử dụng xong, P vứt bỏ giấy bạc màu trắng và bật lửa vào thùng rác và đổ vào xe rác của người đi thu gom vào cuối ngày. Bị cáo Bùi Văn P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đối với mẫu vật chứng đã thu giữ, trong quá trình tiến hành giám định đã sử dụng hết nên không đặt vấn đề xử lý.

Cáo trạng số 06/CT-VKS-KV9 ngày 24 tháng 10 năm 2025 của VKSND khu vực 9 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn P về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - N: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS-KV9 ngày 24 tháng 10 năm 2025. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn P từ 27 tháng đến 30 tháng tù.
  2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật và được cải tạo tại địa phương để trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình Điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, những người chứng kiến đều vắng mặt. Xét thấy, những người chứng kiến đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người chứng kiến không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Căn cứ điều 67 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn P tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Bùi Văn P là người đang trong diện quản lý sau cai nghiện các chất ma tuý tại địa phương theo Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 26/3/2025 của Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường V, tỉnh Ninh Bình), thời gian quản lý từ ngày 26/3/2025 đến 26/3/2027. Khoảng 17 giờ ngày 15/8/2025, tại Tổ dân phố V, phường V, tỉnh Ninh Bình, Bùi Văn P có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đến ngày 17/8/2025 thì bị tổ Công tác công an phường N phát hiện lập biên bản. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Sử dụng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình truy tố bị cáo Bùi Văn P về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực nhận thức điều khiển hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào tại Điều 52 BLHS.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc tới tình tiết: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên HĐXX áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[6] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét cân nhắc giữa các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với các quy định hướng dẫn thi hành BLHS, Hội đồng xét xử thấy:

Xét về nhân thân: Bị cáo sử dụng ma túy, là chất Nhà nước ta nghiêm cấm sử dụng, bị cáo biết nhưng vẫn cố tình thực hiện, ngoài ra bị cáo có 01 tiền sự bị Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 26/2022/QĐ-XLHC, thời gian chấp hành 24 tháng và 08 lần bị xử lý vi phạm hành chính về các hành vi “ trộm cắp tài sản”; “ đánh bạc” ; “ Sử dụng trái phép chất ma tuý” và “ gây rối trật tự công cộng”. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung. Xét mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật chứng đã thu giữ, trong quá trình tiến hành giám định đã sử dụng hết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên Bắc bán ma túy cho P ngày 15-8-2025, P không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người bị kết án nên bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS:

    Xử phạt Bùi Văn P 30 tháng tù (ba mươi tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2025.

  2. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Bùi Văn P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Bùi Văn P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình + Khu vực 9;
  • - Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Phòng THADS khu vực 9;
  • - UBND phường Vị Khê, tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu: VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH về sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger