TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2025 V/v: “Ly hôn giữa chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hồng Thái.
Ông Nguyễn Văn Chuyết.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - N sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 37/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Ninh Bình.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/7/2025 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị P trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn S đã đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 21 tháng 12 năm 2012. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, tính cách không hợp. Từ năm 2014 đến nay, chị và anh S ly thân không đoàn tụ lại, không quan tâm nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh S đã thực sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là Nguyễn Huy H, sinh ngày 03/10/2013, hiện đang ở cùng với anh S và Nguyễn Hoàng Kiều O, sinh ngày 14/3/2023, hiện đang ở với chị. Nay ly hôn, chị đề nghị vợ chồng mỗi người nuôi một con như hiện nay.
Về tài sản, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị P vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Nguyễn Văn S theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, anh S không đến làm việc với Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn S vắng mặt không rõ lý do.
Tại bản biên bản thu thập chứng cứ ngày 15/9/2025 của Tòa án đối với ông Nguyễn Văn T là bố của anh Nguyễn Văn S cho biết: Anh Nguyễn Văn S và chị Hoàng Thị P có quá trình kết hôn và con chung đúng như chị P trình bày. Quá trình chung sống, từ đầu năm 2024 anh S, chị P phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể là gì thì ông không biết, chỉ biết từ đầu năm 2024 đến nay anh S, chị P ly thân. Nay chị P xin ly hôn anh S, quan điểm của gia đình ông và anh S là không đồng ý ly hôn vì như vậy sẽ vi phạm giáo luật Công giáo. Về con chung, chị P và anh S có hai con chung là Nguyễn Huy H đang ở với anh S và Nguyễn Hoàng Kiều O đang ở với chị P. Về tài sản chung, công nợ chung, anh chị không có.
Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án tại UBND xã N cho thấy: Chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S có đăng ký kết hôn, con chung có nội dung đúng như đương sự trình bày. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của chị P và anh S thì UBND xã không nắm được vì các đương sự nộp đơn trực tiếp tại Tòa án, UBND xã không tổ chức hòa giải cơ sở.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án
Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân, xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S. Về con chung, giao chị Hoàng Thị P tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Hoàng Kiều O sinh ngày 14/3/2023. Giao cho anh Nguyễn Văn S tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Huy H sinh ngày 03/10/2013. Chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai sau khi ly hôn. Chị Hoàng Thị P, anh Nguyễn Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Về án phí: Chị Hoàng Thị P phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Đỗ Đình K vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Vũ Thị H1(tức B) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, căn cứ theo khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về việc kết hôn: Chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S đã tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) vào năm 2012. Vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[3] Về hôn nhân: Trong quá trình chung sống, giữa chị P và anh S nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hợp. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2024 đến nay không quan tâm nhau, không tìm nhau đoàn tụ lại. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng đã thật sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ nên chị đề nghị được ly hôn với anh S. Trong toàn bộ thời gian ly thân, cả hai anh chị không có biện pháp hiệu quả nào để hàn gắn. Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh S không đến Tòa án làm việc, có ý thức bỏ mặc. Vì vậy, cuộc hôn nhân giữa chị P và anh S với những mâu thuẫn trầm trọng kéo dài nếu có duy trì thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị P đối với anh Nguyễn Văn S.
[3] Về con chung: Anh chị có hai con chung là Nguyễn Huy H, sinh ngày 03/10/2013, hiện đang ở cùng với anh S và Nguyễn Hoàng Kiều O, sinh ngày 14/3/2023, hiện đang ở với chị P. Căn cứ nguyện vọng của đương sự, tình trạng con chung hiện nay, Hội đồng xét xử thấy: Để đảm bảo sự phát triển toàn diện và sự ổn định của con chung, cần tiếp tục giao cho anh Nguyễn Văn S tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Huy H. Giao chị Hoàng Thị P tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Hoàng Kiều O. Chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai sau khi ly hôn. Chị Hoàng Thị P, anh Nguyễn Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này anh S có yêu cầu sẽ được Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Chị Hoàng Thị P phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[6] Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S.
- Về con chung: Giao chị Hoàng Thị P tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Hoàng Kiều O sinh ngày 14/3/2023. Giao cho anh Nguyễn Văn S tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Huy H sinh ngày 03/10/2013. Chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai sau khi ly hôn. Chị Hoàng Thị P, anh Nguyễn Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị P phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền 300.000đ chị P đã nộp tạm ứng án phí theo lai thu tiền số 0000250 ngày 01 tháng 8 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
- Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị P và anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Cường |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị P và anh S, về nuôi con chung khi ly hôn
