|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/9/2025.
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Văn Chỉ và bà Đỗ Thị Ái Thương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 07 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976.
2. Bị đơn: Anh Phạm Thanh S, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Thôn V, xã A, TP .
(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, được bổ sung bởi biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Thanh S tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 21/6/1994 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn V, xã K nhưng cuộc sống không hạnh phúc mà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do anh S không quan tâm đến gia đình, chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều người và đã nhiều lần chị phải trả nợ cho anh S. Mặc dù chị và gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh S không thay đổi dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Hiện nay mặc dù chị và anh S vẫn sống chung nhà nhưng không còn yêu thương quan tâm đến nhau mà ăn riêng, ngủ riêng từ khoảng 4-5 năm nay, không quan hệ tình cảm. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên chị đề nghị được ly hôn với anh S. Chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mà sớm đưa vụ án ra xét xử. Do bận công việc nên chị xin vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử của Tòa án.
- Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung là cháu Phạm Đức K, sinh năm 1995 và Phạm Đức C, sinh ngày 20/5/2007. Hiện cháu K đã trên 18 tuổi nên chị không yêu cầu giải quyết; cháu C hiện đang ở cùng chị, khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu C và tự nguyện không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quan điểm của bị đơn: Quá trình giải quyết yêu cầu khởi kiện của đương sự, Tòa án đã nhiều lần triệu tập Bị đơn đến Tòa án để trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng Bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Tiến hành lấy lời khai của anh S tại nơi cư trú, anh S khai:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn cùng chị H vào năm 1994 tại UBND xã K, huyện K. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn sau đó liên tục xảy ra cãi vã, xô xát; thời gian gần đây thì không xảy ra việc cãi vã nữa. Nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm trong việc nuôi con, chị H nói anh cờ bạc là không đúng; chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn thì quan điểm của anh không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh và chị H có hai con chung là cháu Phạm Đức K, sinh năm 1995 và Phạm Đức C, sinh ngày 20/5/2007. Hiện cháu K đã trên 18 tuổi nên anh không yêu cầu giải quyết; nếu anh và chị H ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi cháu C.
- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về mâu thuẫn vợ chồng, về nuôi dưỡng con chung; cụ thể như sau:
- Xác minh tại UBND xã K, huyện K: Chị H và anh S đăng ký kết hôn tại UBND xã K vào năm 1994, sau khi cưới thì vợ chồng sinh sống và làm ăn tại địa phương và hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thường xuyên xảy ra cãi vã, nguyên nhân là do vợ chồng không thống nhất được cách nuôi dạy con (con trai lớn của anh S, chị H vi phạm pháp luật, hiện đang chấp hành án tại trại giam H1 - C). Vợ chồng anh S hiện sống ly thân, con thứ 2 hiện đang sống cùng chị H.
- Bà Lê Thị N (mẹ đẻ của chị H) khai: Anh S và chị H sau khi kết hôn thì cuộc sống không có hạnh phúc do anh S chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều người, không quan tâm gia đình, nhiều lần chị H phải trả nợ cho anh S. Mỗi lần chị H khuyên bảo thì đều bị anh S chửi bới, đánh đập. Mặc dù là con rể, nhưng 4 – 5 năm nay anh S không đến thăm vợ chồng bà. Bà cũng động viên chị H cố gắng chịu đựng để con cái có đủ bố mẹ, tuy nhiên do anh S không thay đổi nên việc chị H xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do bận công việc nên bà đề nghị Tòa án không triệu tập bà trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Ông Phạm Thanh C1 (bố đẻ của anh S) khai: Anh S và chị H sau khi kết hôn thì vợ chồng thường xảy ra cãi vã; việc chị H nói anh S chơi bời, nợ nần thì ông không biết. Nay chị H yêu cầu giải quyết ly hôn với anh S thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Cháu Phạm Đức C (con đẻ của anh S, chị H) khai: Bố mẹ cháu do có mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã xúc phạm nhau, từ mấy năm nay bố mẹ cháu mặc dù sống chung nhà nhưng không ăn chung, ngủ chung. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng ở với mẹ để đảm bảo ổn định cuộc sống và học tập.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và giải quyết vấn đề nuôi con chung khi ly hôn.
- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật và của Tòa án; bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
Hướng giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Thanh S.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Đức C, sinh ngày 20/5/2007 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh S cấp dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 18/3/2025, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng đã mở phiên tòa để xét xử vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đã được tống đạt hợp lệ cho các đương sự, tuy nhiên tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và tiếp tục tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập cho các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại phiên tòa lần 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Thanh S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương vào ngày 21/6/1994 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3] Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, xác định: Trong thời kỳ hôn nhân thì vợ chồng chị H, anh S phát sinh mâu thuẫn kéo dài mặc dù đã được hai bên gia đình nhiều lần khuyên bảo. Quá trình Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn thì anh S cũng không chấp hành quy định của pháp luật về việc triệu tập cũng như đến Tòa án để trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và tham gia phiên hòa giải, xét xử; điều này không những thể hiện sự không tuân thủ, chấp hành quy định của pháp luật mà còn không thể hiện nguyện vọng hòa giải đoàn tụ. Mặt khác, trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án, anh S cũng không có những biện pháp cụ thể để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm; vợ chồng vẫn tiếp tục sống ly thân và chị H vẫn giữ yêu cầu khởi kiện ly hôn. Do vậy, có đủ căn cứ để xác định đến thời điểm hiện tại vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc ly hôn với anh Phạm Thanh S.
[4] Về con chung: Vợ chồng chị H, anh S có 02 con chung là cháu Phạm Đức K, sinh năm 1995 và Phạm Đức C, sinh ngày 20/5/2007. Hiện cháu K đã trên 18 tuổi nên anh S và chị H đều không yêu cầu giải quyết. Chị H và anh S đều có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nuôi con chung là cháu Phạm Đức C. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án lấy lời khai thì cháu C có nguyện vọng được ở với mẹ. Đối với anh S, trong quá trình Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện không hợp tác, không trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và học tập, cần giao con chung là cháu Phạm Đức C cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản, nợ chung vợ chồng: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điều 39 của Bộ luật dân sự. Các Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự. Luật phí và lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H; xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Phạm Thanh S.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Phạm Đức C, sinh ngày 20/5/2007. Thời điểm thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tính từ tháng 3/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị H về việc không yêu cầu anh Phạm Thanh S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
- Về tài sản, nợ chung vợ chồng: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm; được đối trừ với số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23; số 0006557 ngày 15/01/2025. Chị Nguyễn Thị H đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm; vắng mặt các đương sự. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
* Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Văn Nghĩa |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 28/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H ly hôn Phạm Thanh S
