|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST Ngày 26-9-2025 V/v ly hôn |
---------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Thanh Hiên
- Ông Đinh Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5-Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2025/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị Minh H; nơi cư trú: Số A Lô A Chùa H, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Sách T; nơi cư trú: Số A Lô A Chùa H, phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn; bản tự khai; biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa, nguyên đơn (chị Đào Thị Minh H) trình bày: Tôi cùng anh Trần Sách T tự nguyện xây dựng gia đình với nhau, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận K, thành phố Hải Phòng (nay là phường K, thành phố Hải Phòng) ngày 13/9/1999.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2001 anh T vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án 02 năm, một mình tôi phải lo toan mọi việc trong gia đình, sau khi hết thời hạn tù anh T trở về vợ chồng chung sống đến năm 2008 thì anh T lại vi phạm pháp luật và bị bắt tạm giam 03 tháng và từ đó cuộc sống vợ chồng lâm vào tình cảnh nợ nần, túng thiếu (khó khăn về kinh tế). Anh T hàng ngày uống rượu say sỉn về hành hạ vợ con, không có trách nhiệm về kinh tế và tình cảm với tôi. Năm 2010 tôi phát hiện anh T có quan hệ với người phụ nữ khác và tôi có khuyên can thì anh T đã đánh đập, chửi tôi; cứ mỗi lần uống rượu về anh T lại có những hành động, lời nói đe doạ làm tôi bị ảnh hưởng đến tinh thần, lúc nào cúng lo sợ do mâu thuẫn vợ chồng; ngoài ra tính cách giữa hai vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2010 đến nay vợ chồng đã sống ly thân không còn quan hệ gì với nhau về tình cảm và kinh tế. Đến nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt, nay đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh T.
- Về con chung: Tôi và anh T có 02 con chung là Trần Hương M, sinh ngày 18/10/1999 và Trần Phi L, sinh ngày 23/01/2004; các con chung của vợ chồng tôi đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung hay công nợ: Tôi (H) không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng cho bị đơn (anh Trần Sách T) theo đúng quy định pháp luật nhưng tại các buổi làm việc anh T đều vắng mặt không có lý do.
Tại biên bản xác minh, đại diện tổ dân phố nơi chị H và anh T cư trú cung cấp: Qua nắm bắt tại khu vực và phản ánh của những người dân cư trú trong tổ cũng như chị H trình bày thì anh T và chị H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B (nay là phường K), thành phố Hải Phòng vào năm 1999 và đã có 02 con chung. Qúa trình chung sống tại địa phương hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, đánh cãi chửi nhau. Khi biết, đại diện khu dân cư đã hoà giải, khuyên can nhưng không có kết quả. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh T, đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu không được đề nghị Toà án giải quyết theo ý kiến của chị H, anh T và theo quy định pháp luật. Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Trần Hương M và Trần Phi L, đến nay con chung của anh T, chị H đều đã trên 18 tuổi; đại diện khu dân cư đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật giải quyết. Về tài sản và công nợ chung: Đại phương không nắm được, nên không có ý kiến gì, đề nghị Toà án căn cứ theo ý kiến của anh T, chị H và quy định pháp luật giải quyết.
Đại diện tổ dân phố cũng cho biết: Các văn bản của Toà án cho anh T, đại diện tổ dân phố nhận và đã giao trực tiếp, tận tay ngay anh T.
Tại biên bản ghi ý kiến đại diện gia đình chị H là bà Phạm Thị Thủy cung C: Quá trình hai bên chung sống luôn bất đồng trong quan điểm sống, lối sống; anh T không lo toan đến gia đình và đã nhiều lần vi phạm pháp luật; chị H đã khuyên can nhiều lần nhưng không có kết quả, anh T thường xuyên chửi bới, đánh chị H. Giữa hai vợ chồng đã sống ly thân từ nhiều năm nay không ai có trách nhiệm đến ai. Nay chị hương có đơn xin ly hôn anh T, đại diện gia đình tôi (T1) đề nghị Toà án giải quyết theo ý kiến của hai bên và theo quy định pháp luật; đại diện gia đình không có ý kiến thắc mắc gì.
Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Trần Hương M, sinh năm 1999 và Trần Phi L, sinh năm 2004, nay con chung của anh T, chị H đều đã trên 18 tuổi; nếu hai bên ly hôn đại diện gia đình không có ý kiến hay đề nghị gì; Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật giải quyết.
Về tài sản: Gia đình không biết, đề nghị Toà án giải quyết theo ý kiến của chị H và anh T và theo quy định pháp luật; gia đình không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của các đương sự, việc giao các văn bản cho các bên. Về phía nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ theo quy định tố tụng dân sự khi tham gia tố tụng; bị đơn không chấp hành đầy đủ theo quy định tố tụng dân sự khi tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đào Thị Minh H được ly hôn anh Trần Sách T. Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung đến nay đã trên 18 tuổi, chị H không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết; nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, công nợ: Chị H không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tố tụng:
[1] Chị Đào Thị Minh H có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Trần Sách T, xét thấy anh T cư trú trên địa bàn phường L, thành phố Hải Phòng, nên căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số 85/2025/QH15), vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.
[2] Tại phiên tòa anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được nhận các văn bản Tòa án giao (trong cả quá trình giải quyết vụ án anh T đều không đến làm việc mặc dù đã được nhận các văn bản của Toà án giao); qua đó cho thấy anh T đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định pháp luật.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Đào Thị Minh H và anh Trần Sách T tuân thủ đúng quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy tại bản tự khai của chị H, biên bản xác minh thu thập chứng cứ đại diện khu dân cư nơi hai bên chung sống và biên bản làm việc với đại diện gia đình chị H đã cung cấp, trình bày cho thấy quá trình chung sống anh T, chị H đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2010, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên đánh cãi nhau, từ khi xẩy ra mâu thuẫn vợ chồng đã sống ly thân không còn quan hệ với nhau về tình cảm, kinh tế.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh T không đến Toà án trong tất cả buổi làm việc theo Giấy triệu tập, Thông báo và các văn bản tố tụng khác của Toà án, điều này cho thấy anh T không thiện chí để hai bên hàn gắn tình cảm, bỏ mặc tình trạng hôn nhân ngày càng xấu đi; qua đó cũng cho thấy mục đích hôn nhân của hai bên không đạt; xét việc chị H xin ly hôn anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Trần Hương M, sinh ngày 18/10/1999 và Trần Phi L, sinh ngày 23/01/2004. Đến nay các con chung của hai bên đã trên 18 tuổi và chị H không yêu cầu xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị H không đề nghị Toà án xem xét, giải quyết; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà Nước theo quy định pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số 85/2025/QH15);
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Minh H được ly hôn anh Trần Sách T.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền này chị H đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hải Phòng) theo Biên lai thu tiền số 0003681 ngày 23/6/2025.
- Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
- Về quyền yêu cầu thi hành án dân sự: Căn cứ vào Điều 2, 26 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Lộc |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
