Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 30/09/2025

“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Nguyên và Ông Bùi Thanh Nhiến.

Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân khu vực 12 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20A/2025/QĐXXST - DS ngày 27/8/2025 và quyết định hoãn phiên tòa, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Đồng Thị T, sinh năm 1992.
  • - Bị đơn: Anh Đinh Văn H, sinh năm 1991
  • Cùng cư trú: xóm T (xã H cũ), xã T, tỉnh Phú Thọ.
  • (Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đồng Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/03/2018 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, lối sống nên thường xảy ra cãi nhau. Vợ chồng sống chung khoảng một năm thì ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Anh H đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về. Nay, chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

1

Về tài sản chung, công nợ chung: không có tài sản chung, không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về phía bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn đến làm việc và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng tại các buổi làm việc, phiên họp, phiên hòa giải anh H đều không có mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh.

Tại biên bản ghi lời khai đề ngày 08/08/2025, mẹ đẻ của chị Đồng Thị T – Bà Đỗ Thị M cung cấp: Hai con của bà là các cháu Đồng Thị T và Đinh Văn H là vợ chồng, được tự do tìm hiểu và tổ chức cưới hỏi theo phong tục truyền thống tại địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 20/03/2018. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai cháu ở riêng sau đó phát sinh mâu thuẫn, cháu T bỏ về sống tại nhà bà ở xóm T, xã T, Phú Thọ. Bà được biết sau khi kết hôn, cuộc sống chung của hai cháu không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng về quan điểm sống, lối sống. Cháu H thường xuyên mắng chửi, đe dọa, bạo lực gia đình về tinh thần với cháu T. Do vậy, cháu T đã chuyển về nhà bà sống, ly thân với cháu H từ năm 2019 cho đến nay. Sau đó, cháu H bỏ đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về nhưng không thông báo với gia đình và chính quyền địa phương đi đâu, làm gì. Nay bà thấy cuộc sống của hai con không có hạnh phúc, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: không có.

Tại biên bản xác minh, ông Nguyễn Bá S, bác ruột của anh Đinh Văn H cung cấp: Cháu Đồng Thị T và cháu Đinh Văn H đều có hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn, hai cháu có được tự do tìm hiểu và tổ chức cưới hỏi theo phong tục truyền thống tại địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, tỉnh Phú Thọ từ năm 2018. Sau khi kết hôn, hai cháu có chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân cụ thể ông cũng không nắm được, chỉ biết khi mâu thuẫn một thời gian thì cháu H bỏ đi miền N làm ăn, thỉnh thoảng có về thăm nhà nhưng không thông báo cho gia đình biết địa chỉ cụ thể ở đâu nên ông không nắm được. Hai cháu sống ly thân từ đó. Nay, cháu T có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, không có con chung.

Tại biên bản xác minh ông Nguyễn Quang H1 trưởng xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ cung cấp: Ông là trưởng xóm từ năm 2015 cho đến nay. Cháu T và cháu H đều là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Trước khi kết hôn, hai cháu được tự do tìm hiểu và tổ chức cưới hỏi theo phong tục truyền thống tại địa phương, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của hai cháu không được hạnh phúc, hòa thuận. Mâu thuẫn cụ thể, nguyên nhân do đâu thì ông không rõ, ông chỉ biết sau khi mâu thuẫn, cháu H bỏ đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về rồi lại đi ngay nhưng không thông báo với chính quyền địa phương nên ông cũng không biết anh H đi đâu, làm gì. Sau đó cháu T cũng bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Hai cháu sống ly thân khoảng hai năm nay. Ông thấy mâu thuẫn vợ chồng hai cháu đã trầm trọng, đề nghị toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: không có con chung; về tài sản chung, công nợ chung: ông không biết.

2

Tại biên bản xác minh ông Đồng Văn X là chú ruột đồng thời là hàng xóm của chị T, anh H cung cấp: Cháu Đồng Thị T và cháu Đinh Văn H có hộ khẩu thường trú và là công dân sinh sống tại xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ. Hai cháu T và cháu H trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu, có được tổ chức đám cưới tại địa phương và có đăng ký kết hôn từ năm 2018. Sau khi cưới, hai vợ chồng các cháu có sinh sống tại xóm T gần nhà tôi. Trong quá trình chung sống, mâu thuẫn của các cháu cụ thể như thế nào ông không biết, chỉ biết hai vợ chồng sống được một thời gian, sau đó anh H bỏ vào miền N để làm ăn, thỉnh thoảng có về nhưng không thông báo, cung cấp địa chỉ ở đâu nên ông cũng không biết. Sau đó cháu T cũng bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay cháu T có đơn xin ly hôn tôi đề nghị tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh H vắng mặt lần 2 không có lý do nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 2 điều 1 luật số 85/2025 (sửa đổi bổ sung điều 35 BLTTDS); khoản 1 điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn với anh H. Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Chị T và anh H không có, do vậy không đề cập giải quyết. Về án phí: căn cứ quy định Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/NQ ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, chấp nhận chị T tự nguyện nộp toàn bộ án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đều hợp pháp. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân gia đình, cụ thể là về việc ly hôn. Đồng thời, bị đơn anh Đinh Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình nay là xã T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành gửi các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Sau khi đã điều tra xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

3

Về quan hệ hôn nhân: Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai của chị Đồng Thị T và biên bản xác minh thì chị T và anh H kết hôn với nhau từ ngày 20/03/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố H (Nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống, không hòa hợp về tính cách. Anh H bỏ đi làm ăn xa, chị T về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Từ năm 2019 đến nay, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không có. Nay, chị T có đơn xin ly hôn, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Về con chung: Vợ chồng chị Đồng Thị T, anh Đinh Văn H không có con chung nên không xem xét. Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Đồng Thị T tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, xét sự tự nguyện phù hợp pháp luật, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 228; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình;; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đồng Thị T ly hôn anh Đinh Văn H.
  2. Về án phí: Chị Đồng Thị T tự nguyện nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000748 ngày 23/07/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Phú Thọ.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Đồng Thị T, anh Đinh Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ
  • - VKSND Khu vực 12-Phú Thọ
  • - Phòng THADS khu vực 12-Phú Thọ;
  • - UBND X. Thịnh Minh, T. Phú Thọ;
  • - Các đương sự
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Lan

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HNGĐ - ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ về ly hôn

  • Số bản án: 33/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử cho chị T được ly hôn anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger