| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| THÁI NGUYÊN | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/ HNGĐ-ST
Ngày: 26/12/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Huyền
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Trung;
2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Kim Thị Thanh Thúy – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5- Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên: Ông Phan Thanh Tiến - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5- Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 125/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1982;
- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Xóm P, xã D, tỉnh Thái Nguyên.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà).
Địa chỉ: Xóm P, xã D, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn, tại bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày: Ngày 08/11/2000 chị và anh Trần Văn T làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên nay là UBND xã D, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống chị và anh T có 02 con chung là cháu Trần Thị T1, sinh ngày 27/5/2001 và cháu Trần Văn T2, sinh ngày 01/3/2004. Về tài sản chung và khoản nợ chung không có.
Về nguyên nhân ly hôn: Sau khi đăng ký kết hôn và được hai bên gia đình nội ngoại tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, chị và anh T về chung sống với nhau, trong thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh T thường xuyên uống rượu say và về đánh chị nên đầu năm 2004 chị đi làm công ty và về bên ngoại sinh sống, chị và anh T sống ly thân từ đó đến nay. Chị Hoàng Thị N xác định việc duy trì tình cảm vợ chồng không đem lại hạnh phúc nên giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Trần Văn T. Về con chung: cháu T1 và cháu T2 đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Hoàng Thị N nhận nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập, tống đạt các giấy tờ cho anh T, nhưng anh T không có mặt tại Tòa án, nên không có bản tự khai của anh T. Tòa án không tiến hành lập biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.
Kết thúc phần hỏi vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án như thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình; lập hồ sơ và chấp hành về thời gian chuẩn bị xét xử; thời hạn tiến hành phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; 56; 57 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị N, cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Trần Văn T. Về con chung: Hai con chung là cháu Trần Thị T1, sinh ngày 27/5/2001 và cháu Trần Văn T2, sinh ngày 01/3/2004 đã trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và khoản nợ chung không xem xét giải quyết vì chị N không yêu cầu. Về án phí chị N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.
Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt chị Hoàng Thị N và anh Trần Văn T, nhưng chị Hoàng Thị N đã có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Đối với anh Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Ngày 08/11/2000 chị Hoàng Thị N và anh Trần Văn T đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên nay là UBND xã D, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc nên được pháp luật thừa nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp. Về nguyên nhân xin ly hôn nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày: Sau khi đăng ký kết hôn và được hai bên gia đình nội ngoại tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, chị và anh T về chung sống với nhau, trong thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh T thường xuyên uống rượu say về đánh chị nên đầu năm 2004 chị đã đi làm Công ty và về bên nhà mẹ đẻ sinh sống, hai vợ chồng ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị Hoàng Thị N nhận thấy không còn tình cảm với anh Trần Văn T nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được vì vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị N là phù hợp với thực tế và quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Về con chung: Hai con chung của chị N và anh T là cháu Trần Thị T1, sinh ngày 27/5/2001 và cháu Trần Văn T2, sinh ngày 01/3/2004 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị N nhận nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 273, Điều 482 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị N, cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Trần Văn T.
- Về con chung: Hai con chung của chị N và anh T là cháu Trần Thị T1, sinh ngày 27/5/2001 và cháu Trần Văn T2, sinh ngày 01/3/2004 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vì chị N không yêu cầu.
- Về Án phí: Chị Hoàng Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001560 ngày 17/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thái Nguyên.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Huyền |
Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N xin ly hôn anh T
