Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 26 - 9 - 2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tấn và ông Phạm Đức Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lập - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 17/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2025/QĐ-ST ngày 11/9/2025, giữa:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam (nay là thôn G, xã N, tỉnh Ninh Bình), vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị H để giao, nhận tài liệu, văn bản tố tụng: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2002 và chị Nguyễn Thị K, sinh năm 2001; cùng địa chỉ: Số C, ngõ A N, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội (nay là số C, ngõ A N, phường Y, Thành phố Hà Nội), vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Trần Xuân C, sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Thôn G, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam (nay là thôn G, xã N, tỉnh Ninh Bình); chỗ ở hiện nay: Nhật Bản, không rõ địa chỉ cụ thể; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Xuân T, sinh năm 1956 và bà Trần Thị L, sinh năm 1959; cùng địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam (nay là thôn G, xã N, tỉnh Ninh Bình), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn chị Trần Thị H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Chị Trần Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân chị và anh Trần Xuân Chung kết H2 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 31/7/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được hai người con là cháu Trần Xuân H3, sinh ngày 18/01/2016 và cháu Trần Thảo N, sinh ngày 26/4/2018. Quá trình chung sống về sau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai người có những khác biệt về lối sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, bản thân anh C năm 2024 đã sang Nhật Bản sinh sống và làm ăn, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Vì vậy, chị H làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam (nay là Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình) xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị H xác định chị và anh C có hai người con chung là cháu Trần Xuân H3, sinh ngày 18/01/2016 và cháu Trần Thảo N, sinh ngày 26/4/2018. Hiện nay hai cháu đang ở với chị. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành và tự lập được.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và vấn đề khác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 20/8/2025, ông Trần Xuân T và bà Trần Thị L trình bày: Ông, bà là mẹ đẻ của anh Trần Xuân C, anh C và chị H lấy nhau có đăng ký kết hôn và sinh được hai người con chung là cháu Trần Xuân H3, sinh ngày 18/01/2016 và cháu Trần Thảo N, sinh ngày 26/4/2018, hiện cả hai cháu đang ở cùng chị H. Nay chị H xin ly hôn với anh C, ông bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với việc chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H3 và cháu N, ông bà đề nghị Toà án giao cháu Trần Thảo N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Trần Xuân H3 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, ông bà đồng ý nhận nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H3 trong thời gian anh C không ở Việt Nam. Khi nào anh C về nước, ông bà sẽ giao cháu H3 cho anh C chăm sóc, nuôi dưỡng, ông bà cam đoan không cản trở chị H thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu H3.

Tại đơn trình bày của cháu Trần Xuân H3: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu được ở với bố C.

Tại đơn trình bày của cháu Trần Thảo N: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu được ở với mẹ H.

Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình tiến hành công khai tài liệu chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng chị H và anh C đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên toà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Q ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Trần Xuân C. Về con chung: Giao cháu Trần Xuân H3, sinh ngày 18/01/2016 và cháu Trần Thảo N, sinh ngày 26/4/2018 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập, anh C không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H về ly hôn, tranh chấp nuôi con, do anh Trần Xuân C đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam (nay là Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình) theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Tại phiên toà nguyên đơn chị H vắng mặt (có đơn xét xử vắng mặt), bị đơn anh Trần Xuân C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân T và bà Trần Thị L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh C, ông Trần Xuân T và bà Trần Thị L theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Trần Xuân Chung kết H2 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 31/7/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được hai người con là cháu Trần Xuân H3, sinh ngày 18/01/2016 và cháu Trần Thảo N, sinh ngày 26/4/2018. Quá trình chung sống về sau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai người có những khác biệt về lối sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, bản thân anh C năm 2024 đã sang Nhật Bản sinh sống và làm ăn, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên giải quyết cho chị H được ly hôn với anh C là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị H xác định chị và anh C có hai con chung là cháu Trần Xuân H3, sinh ngày 18/01/2016 và cháu Trần Thảo N, sinh ngày 26/4/2018, hiện nay cả hai cháu đang ở cùng với chị; khi ly hôn chị mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu, anh C không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai của cháu H3 là khi bố mẹ ly hôn thì cháu mong muốn được ở cùng với bố, tuy nhiên căn cứ vào điều kiện thực tế hiện anh Trần Xuân C đang ở nước ngoài, không có điều kiện chăm sóc con. Xét về điều kiện của chị H thấy, hiện chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu H3 và cháu N, để đảm bảo cho các cháu cả về vật chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày và theo nguyện vọng của chị H được nuôi dưỡng cả hai cháu H3 và cháu N, nguyện vọng của chị H là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và các vấn đề khác: Chị H không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Những vấn đề ngoài phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 469, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Q ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị H ly hôn với anh Trần Xuân C.

  2. Về con chung: Giao cháu Trần Xuân H3, sinh ngày 18/01/2016 và cháu Trần Thảo N, sinh ngày 26/4/2018 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập, anh C không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001764 ngày 02/6/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình) được đối trừ khi thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Trần Thị H, ông Trần Xuân T và bà Trần Thị L vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, anh Trần Xuân C vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tối cao;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Nam Lý;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Công Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị H và anh Trần Xuân Chung kết H2 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 31/7/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được hai người con là cháu Trần Xuân H3, sinh ngày 18/01/2016 và cháu Trần Thảo N, sinh ngày 26/4/2018. Quá trình chung sống về sau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai người có những khác biệt về lối sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, bản thân anh C năm 2024 đã sang Nhật Bản sinh sống và làm ăn, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger