Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 325/2025/HS-PT

Ngày: 21 - 11 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.
  • Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh;
  • Ông Đinh Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21/11/2025, tại Trụ sở 1 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 256/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Huỳnh Văn B có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn B1 bị hại Huỳnh Tấn P với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo:

Huỳnh Văn B2, sinh ngày 01/01/1955, tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Số E, ấp A, xã L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn T(đã chết) và bà: Võ Thị T1(đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị K(đã chết); có 07 con, con lớn nhất sinh năm 1977, con nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam, tạm giữ: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn B3: Luật sư Bùi Văn P1 phòng Lthuộc Đ (Có mặt).

- Bị hại có kháng cáo:

Huỳnh Tấn P2 năm 1983 (Có mặt);

Địa chỉ: Số B, ấp A, xã L, tỉnh Đồng Tháp

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trương Thị H năm 1986 (Xin vắng mặt);
  2. Đia chỉ: Số B, ấp A, xã L, tỉnh Đồng Tháp

  3. Huỳnh Thị V năm 1986 (Vắng mặt);
  4. Địa chỉ: Số E, ấp A, xã L, tỉnh Đồng Tháp

Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Huỳnh Văn B1 ông Huỳnh Văn T2(Clà anh em ruột với nhau. Vào khoảng năm 1990, bị cáo B1 ông T2có thỏa thuận miệng chuyển đổi quyền sử dụng đất với nhau, cụ thể:

  • + Bị cáo B4 sử dụng thửa đất số 1157 do ông T2đứng tên quyền sử dụng đất để canh tác.
  • + Ông T2nhận sử dụng thửa đất 1025 và 1027 do bị cáo B5 tên quyền sử dụng đất để canh tác.

Hai bên không thực hiện thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất theo quy định và không thỏa thuận thời gian trả lại đất mà hẹn đến khi nào hai bên không sử dụng đất nữa thì đổi lại cho nhau, không bắt buộc phải canh tác hoặc trồng cây gì.

Đến năm 1998 ông T2chết, con ông T2là Huỳnh Tấn P3 tục canh tác các thửa 1025 và 1027 của bị cáo B Đến năm 2017, anh P4 đất làm vườn trồng quýt đường và thu hoạch.

Đến năm 2020, mẹ anh P5 Phạm Thị P2có gởi đơn khởi kiện bị cáo B6 Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò tranh chấp về việc bị cáo B7 ranh đất. Từ đó phát sinh mâu thuẫn gay gắt giữa Bị cáo với gia đình anh P

Đến trưa ngày 17/5/2023, bị cáo B8 khiển xe chạy trên đường H ấp B, xã L gặp ông Lưu Văn P6 ông Mai V1 T3làm nghề cưa cây dạo và đang tìm người thuê cưa cây. Lúc này, bị cáo B9 ông P3và ông T3cưa cây quýt. Sau khi thỏa thuận giá thuê là 500.000 đồng/1.000m² được hai bên thống nhất.

Đến khoảng 08 giờ ngày 18/5/2023, ông P3và ông T3đến địa điểm hẹn gặp bị cáo Bbị cáo Bdẫn ông P3và ông T3đến tại thửa đất số 1025 và 1027 tờ bản đồ số 02 thuộc ấp A, xã L, tỉnh Đồng Tháplà đất anh Huỳnh Tấn P7 quýt đang trong thời kỳ cho trái. Bị cáo B10 định phạm vi vườn quýt cho ông P3và ông T3cần cưa xong, thì bị cáo B6 khu mộ gần đó để làm cỏ. Còn ông P3và ông T3dùng máy cưa lần lượt cưa cắt đứt ngang gốc tổng cộng 196 cây quýt có bề hoành thân từ 40cm-50cm, tán trung bình từ 3,5m-4m, cao từ 4m-5m đang trong thời kỳ cho trái của anh P

Anh P8 hiện vụ việc đến trình báo Công an xã L đến hiện trường Công an xã Lyêu cầu ông P3và ông T3dừng ngay việc cưa cắt quýt. Đồng thời, yêu cầu ông T3và ông P3cùng tham gia kiểm đếm số lượng quýt đường đã bị cưa tổng cộng là 196 cây quýt đường, cụ thể:

  • + Trong đó có 13 cây bị thối rễ và rụng lá.
  • + Còn lại 183 trong tình trạng thiệt hại hoàn toàn và lập biên bản vụ việc, chụp ảnh hiện trường làm căn cứ xử lý.

Trưa cùng ngày, bị cáo B14 trả cho ông P3và ông T3 đồng tiền thuê cưa quýt.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của ông Lưu Văn P9 và ông Mai Văn T4 mỗi người 01 (Một) máy cưa xích hiệu Echo màu cam đã qua sử dụng. Hiện đã trả lại cho ông P3và ông T3các tài sản trên.

Tại kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L:

Giá trị của 196 cây quýt đường (Đã bị cưa đứt ngang gốc thiệt hại hoàn toàn), 06 năm tuổi, cây trong thời kỳ cho trái, hoành thân từ 40cm đến 50cm, tán rộng từ 3,5m đến 4m, chiều cao từ 4m đến 4,5m là 294.000.000 đồng.

Quá trình điều tra truy tố đã xác định lại số lượng cây quýt bị cưa là 196 cây, trong đó có 13 cây đã chết trước khi cưa. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã định giá lại cho đúng số lượng cây đang cho trái và cây bị chết.

Tại kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 31/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L:

Giá trị của 183 cây quýt đường (đã bị cưa đứt ngang gốc thiệt hại hoàn toàn), 06 năm tuổi, cây trong thời kỳ cho trái, hoành thân từ 40cm đến 50cm, tán rộng từ 3,5m đến 4m, chiều cao từ 4m đến 4,5m là 274.500.000 đồng.

Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo Huỳnh Văn B11 thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, cụ thể:

- Bị cáo Huỳnh Văn B12 bày:

  • + Thừa nhận là Bị cáo có thuê ông P3và ông T3cưa 196 cây quýt đường của anh Huỳnh Tấn P10 nhiên, Bị cáo cho rằng việc thuê ông P3và ông T3cưa 196 cây quýt đường của anh P11 vì đất mà anh P7 quýt là của Bị cáo đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Bị cáo đã có thông báo việc giao trả đất giữa Bị cáo và bà P12(Vợ ông T2biết về việc giao trả đất lại với nhau. Bà P2đồng ý và có cam kết đốn cây trả đất nhưng không thực hiện nên Bị cáo thuê người cưa quýt của anh P13 lấy lại đất canh tác.
  • + Bị cáo không thống nhất với kết luận định giá tài sản 183 cây quýt đường trị giá 274.500.000đ và cho rằng các cây quýt của anh P14 cưa cắt đã suy còi, không có giá trị kinh tế, định giá cao chưa đúng với thực tế.

- Bị hại anh Huỳnh Tấn P15 bày:

Ngày 18/5/2023 bị cáo Bthuê ông P3và ông T3cưa cắt tổng cộng 196 cây quýt đường của anh có bề hoành thân từ 40cm-50cm, tán trung bình từ 3,5m-4m, cao từ 4m-5m đang trong thời kỳ cho trái và đã có thu hoạch từ những năm trước. Tại hiện trường Công an xã Lkiểm tra và đếm chính xác số lượng quýt đường đã cưa tổng cộng là 196 cây. Trong đó, có 13 cây bị thối rễ và rụng lá, còn lại 183 trong tình trạng thiệt hại hoàn toàn.

Anh P25 cầu bị cáo B13 thường gồm các khoản sau:

  • + Bồi thường thiệt hại 183 cây quýt đường theo giá trị tài sản đã định giá là 274.500.000 đồng.
  • + Bồi thường thiệt hại 80 cây quýt đường còn lại do không thể chăm sóc là 1.500.000 đồng/cây thành tiền 120.000.000 đồng;
  • + Bồi thường thiệt hại tiền lợi tức thu được nếu không bị hủy hoại tài sản tính theo 03 tháng liền kề tại thời điểm tài sản bị hủy hoại: Tổng cộng 263 cây quýt đường, trung bình 45 ngày thu hoạch 01 lần, 01 lần khoảng 03 tấn, giá quýt đường trung bình 20.000 đồng/kg, 45 ngày sẽ thu lợi 60.000.000 đồng, 03 tháng liền kề tương đương 120.000.000 đồng. Tổng số tiền là 514.500.000 đồng.

- Bị cáo Huỳnh Văn B11 đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Huỳnh Tấn P16

- Ngày 23/7/2025 chị Huỳnh Thị V2(Là con của bị Cáo Huỳnh Văn B14 nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo B15 tiền 10.000.000 đồng, theo biên lai số 0005639 và biên lai số 0005637 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 178, điểm b, o, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Điều 38 của Bộ luật hình sự;
    • - Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn B16 tội “Hủy hoại tài sản”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn B17 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bị cáo đi chấp hành án.
  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
  4. Buộc cáo Huỳnh Văn B18 nghĩa vụ bồi thường cho anh Huỳnh Tấn P17 chị Trương Thị H1 trị 183 cây quýt đường với số tiền là 274.500.000 đồng (Hai trăm bảy mươi bốn triệu, năm trăm nghìn đồng). Bị cáo đã nộp khắc phục số tiền 10.000.000 đồng theo biên lai số 0005639 và biên lai số 0005637 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Nên bị cáo Huỳnh Văn B19 phải bồi thường cho anh Huỳnh Tấn P18 tiền là 264.500.000 đồng (Hai trăm sáu mươi bốn triệu, năm trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

+ Ngày 04/8/2025, bị cáo Huỳnh Văn B2 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án với nội dung Tòa án nhân dân Khu vực 7 đã nhận định đánh giá chứng cứ không đầy đủ, không đúng thực tế khách quan là không đúng pháp luật, gây oan sai cho bị cáo B.

+ Ngày 06/8/2025, bị hại Huỳnh Tấn P19 đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm không cho bị cáo Huỳnh Văn B20 hưởng tình tiết giảm nhẹ và yêu cầu mức bồi thường về trách nhiệm dân sự là 514.500.000 đồng.

Tại phiên toà phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm:

  • + Hành vi của bị cáo Huỳnh Văn B21 Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 3 Điều 178 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với Bị cáo 03 năm tù là phù hợp, có xem xét các tình tiết giảm nhẹ. Quá trình kháng cáo, Bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới.
  • + Đối với kháng cáo của bị hại Huỳnh Tấn P20 đồng ý cho Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Về trách nhiệm dân sự yêu cầu Bị cáo phải bồi thường số tiền 514.500.000 đồng là không phù hợp.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn B1 bị hại Huỳnh Tấn P16

- Vị Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn B2 phát biểu quan điểm:

  • + Không thống nhất với Bản án sơ thẩm và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp mà cho rằng:
  • + Quýt trồng trên đất ông B là của bà P12 Vì bà P2là chủ hộ, nên quyết định trồng cây gì là của bà P12. Việc xác định anh Plà bị hại là không đúng nếu như có hành vi hủy hoại tài sản thì Bị hại là bà P12.
  • + Việc định giá tất cả các cây quýt đều như nhau là không phù hợp, vì kích cỡ các cây quýt không bằng nhau.
  • + Cơ quan điều tra chưa làm rõ việc bà P2cam kết đổi trả đất cho ông B22 thế nào. Việc đổi đất giữa ông B23 ông T2ông Bđã trả đất cho bà P2xong, nhưng bà P2không đốn quýt trả lại đất. Hành vi thuê người cưa quýt của ông B24 có vi phạm chỉ là hành vi dân sự, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo B11 phạm tội.

- Bị cáo B11 tranh luận và thống nhất theo ý kiến tranh luận của vị Luật sư.

- Bị hại Ptranh luận cho rằng bị cáo B11 ăn năn hối cải, khi phạm tội chưa đủ 70 tuổi, chỉ khắc phục 10.000.000 đồng, hành vi hủy hoại tài sản của Bị cáo làm cho gia đình anh P21 rất nhiều khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không cho Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ và yêu cầu tăng mức bồi thường.

- Lời nói sau cùng, Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.

[2] Bị cáo Huỳnh Văn B25 nhận hành vi có thuê ông Lưu Văn P6 ông Mai Văn T5 cưa cắt đứt 183 cây quýt đường trên thửa đất số 1025 và 1027 của anh Huỳnh Tấn P22 Lời khai của Bị cáo phù hợp với lời khai của Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được và các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Qua đó có đủ cơ sở xác định, xuất phát từ việc mâu thuẫn tranh chấp đất nên vào khoảng 08 giờ ngày 18/5/2023 bị cáo Huỳnh Văn B14 thuê ông Lưu Văn P6 ông Mai Văn T5 cưa cắt đứt 183 cây quýt đường đang trong thời kỳ cho trái trị giá là 274.500.000 đồng của anh Huỳnh Tấn P23 canh tác trên thửa đất số 1025 và 1027 tờ bản đồ số 02 thuộc ấp A, xã L, tỉnh Đồng Tháp

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến tài sản của người khác một cách trái phạm pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định nên Bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Việc Bị cáo thuê người dùng cưa cắt đứt 183 cây quýt đường đang trong thời kỳ cho trái trị giá là 274.500.000 đồng của anh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 3 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 3 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, Bị cáo kháng cáo cho rằng quýt mà Bị cáo thuê người cưa bỏ là của bà P2và đã thông báo cho bà P2mẹ anh P24 việc trả đất và bà P2cũng có làm cam kết sẽ đốn cây trả lại đất nên hành vi của Bị cáo không phạm tội. Xét thấy, lời trình bày của Bị cáo không được bà P2thừa nhận là quýt của bà P12, cũng như có cam kết đốn quýt để trả lại đất và Bị cáo cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với Bị cáo là phù hợp, có xem xét các tình tiết giảm nhẹ và đã áp dụng mức hình phạt dưới khung (03 năm tù) là đã có chiếu cố cho Bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo B

[4] Xét kháng cáo của bị hại Huỳnh Tấn P25 cầu cấp phúc thẩm không cho bị cáo Huỳnh Văn B20 hưởng tình tiết giảm nhẹ và yêu cầu mức bồi thường về trách nhiệm dân sự tổng các khoản là 514.500.000 đồng.

Xét thấy:

+ Về trách nhiệm hình sự: Mặc dù Bị cáo không thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, không ăn năn hối cải nhưng, trong quá trình chuẩn bị xét xử người thân của Bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả thay cho Bị cáo số tiền 10.000.000 đồng. Khi xét xử sơ thẩm Bị cáo là người trên 70 tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, o, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt dưới khung theo khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho Bị cáo là có căn cứ.

+ Về trách nhiệm dân sự:

Do bị cáo Huỳnh Văn B26 gây thiệt hại 183 cây quýt đường theo giá trị tài sản đã định giá là 274.500.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc Bị cáo bồi thường thiệt hại cho anh Huỳnh T6 P274.500.000 đồng là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với các khoản anh Huỳnh Tấn P25 cầu gồm:

Bồi thường thiệt hại 80 cây quýt đường còn lại do không thể chăm sóc là 1.500.000 đồng/cây thành tiền 120.000.000 đồng; Bồi thường thiệt hại lợi tức thu được nếu không bị hủy hoại tài sản tính theo 03 tháng liền kề tại thời điểm tài sản bị hủy hoại, tổng cộng 263 cây quýt đường, trung bình 45 ngày thu hoạch 01 lần, 01 lần khoảng 03 tấn, giá quýt đường trung bình 20.000 đồng/kg, 45 ngày sẽ thu lợi 60.000.000 đồng, 03 tháng liền kề tương đương 120.000.000 đồng, tổng cộng là 240.000.000 đồng là không phù hợp. Bởi vì, 80 cây quýt đường còn lại không bị ảnh hưởng do hành vi hủy hoại tài sản của Bị cáo. Còn lợi tức mà anh yêu cầu hình thành trong tương lai nhưng anh cũng không có chứng cứ gì chứng minh.

Vì vậy, yêu cầu nêu trên của anh P20 được chấp nhận.

[5] Xét ý kiến đề nghị của vị Luật sư bào chữa cho Bị cáo là không phù hợp như đã nhận định ở trên nên không chấp nhận.

[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với kháng cáo của Bị cáo và Bị hại là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

[7] Về án phí:

Do bị cáo B3 người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền án phí nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Anh Huỳnh Tấn P20 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy đinh của pháp luật.

Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn B1 bị hại Huỳnh Tấn PGiữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Đồng Tháp.

  3. Căn cứ khoản 3 Điều 178, điểm b, o, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự;
    • - Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn B16 tội “Hủy hoại tài sản”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn B17 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  5. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 589 của Bộ luật Dân sự;
  6. Buộc cáo Huỳnh Văn B18 nghĩa vụ bồi thường cho anh Huỳnh Tấn P17 chị Trương Thị H1 trị 183 cây quýt đường với số tiền là 274.500.000 đồng (Hai trăm bảy mươi bốn triệu, năm trăm nghìn đồng). Bị cáo đã nộp khắc phục số tiền 10.000.000 đồng theo biên lai số 0005639 và biên lai số 0005637 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo Huỳnh Văn B19 phải bồi thường cho anh Huỳnh Tấn P18 tiền là 264.500.000 đồng (Hai trăm sáu mươi bốn triệu, năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng do chị Huỳnh Thị V2(Là con của bị Cáo Huỳnh Văn B14 nộp để khắc phục hậu quả thay cho bị cáo B27 biên lai số 0005639 và biên lai số 0005637, ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp để đảm bảo thi hành án.

  7. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
    • + Bị cáo Huỳnh Văn B20 miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.
    • + Bị hại Huỳnh Văn P26 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  8. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND Khu vực 7 – Đồng Tháp;
  • - VKSND Khu vực 7 – Đồng Tháp;
  • - Phòng THADS Khu vực 7 – ĐT
  • - CQTHAHS Công an tỉnh ĐT;
  • - CQCS ĐT Công an tỉnh ĐT;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CATĐT;
  • - Phòng GĐKTTT-THA Tòa án tỉnh ĐT;
  • - Bị cáo; đương sự
  • - Lưu: VT, HSVA (N).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sỹ Danh Đạt

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 325/2025/HS-PT ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (tội hủy hoại tài sản)

  • Số bản án: 325/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm (Tội Hủy hoại tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn Bao
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger