|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 325/2025/DS-PT
Ngày 13-11-2025
“V/v Tranh chấp quyền sử
dụng đất.”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Dương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Dương Hà Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chính là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 13-11-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng cơ sở 02 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2025/TLPT-DS ngày 06-10 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DS-ST ngày 28-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 479/20245/QĐ-PT ngày 14-10-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 346/2025/QĐ-PT ngày 28-10-2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N; địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường Đ, tỉnh Lâm Đồng) - Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trương Thị N1; địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường Đ, tỉnh Lâm Đồng (Văn bản ủy quyền ngày 18-10-2025) - Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Quang T là Luật sư thuộc văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh L- Có đơn xin xét xử vắng mặt, gửi kèm theo luận cứ.
2. Bị đơn: Bà Trịnh Thị Cẩm L; địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là thôn Q, xã Q, tỉnh Lâm Đồng) - Có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị Mỹ N2; cùng địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường N, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị Mỹ N2: Bà Trần Thị Mỹ L1 và ông Nguyễn Văn Q; cùng địa chỉ: 127 T, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh) - Vắng mặt.
3.2. Ông Mai N3; địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường Đ, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Mai N3: Bà Trương Thị N1; địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường Đ, tỉnh Lâm Đồng - Có mặt.
3.3. Ông Nguyễn Minh N4; địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là Tổ dân phố B Nghĩa Thành phường B, tỉnh Lâm Đồng) - Có mặt.
3.4. Ngân hàng TMCP C-Chi nhánh Đ; địa chỉ trụ sở: G T, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là số 78 T, phường B, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị H-Chức vụ Phó Giám đốc Chi nhánh Đ; địa chỉ: 78 T, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là G T, phường B, tỉnh Lâm Đồng) - Có đề nghị xét xử vắng mặt.
3.5. Bà Lê Thị T1; địa chỉ: Tổ 4, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là Tổ 4 Nghĩa Phú phường N, tỉnh Lâm Đồng) - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người làm chứng: Ông Bùi Xuân L2 và bà Trần Thị Mỹ T2; địa chỉ: số 79 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.- Vắng mặt.
5. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Minh N4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Đơn khởi kiện ngày 07 tháng 12 năm 2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 21-12-2023 các tài liệu trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
1.1. Ngày 03-10-2014, ông Bùi Xuân L2, bà Trần Thị Mỹ T2 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn V, bà Trần Thị Mỹ N2 thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m² Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số BB 039661, tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng). Ngày 16-10-2020 bà Nguyễn Thị Ngọc N5 chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị Mỹ N2 thửa đất trên. Đến ngày 02-11-2020 bà N đã được đăng ký biến động đối với thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m², GCNQSDĐ)số BU 807676.
1.2. Nguồn gốc thửa đất 1092 và các thửa đất 2034, 2047 và 2046 được tách từ thửa 222, tờ bản đồ 04, diện tích 790m², tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông đã được cấp GCNQSDĐ cho ông Bùi Xuân L2 (nhận thừa kế của cha, mẹ là ông Bùi Văn H1, bà Trịnh Thị Thúy B), ông L2 và có trách nhiệm trả cho bà Trịnh Thị Cẩm L là người thừa kế giá trị di sản được hưởng 1.380.000.000 đồng.
1.3. Trên thửa đất số 222, tờ bản đồ 04, diện tích 790m², có 03 kiôt và một căn nhà do bà Trịnh Thị Cẩm L tạo lập. Khi giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy di chúc, hủy GCNQSDĐ, yêu cầu chia di sản thừa kế”, Bản án số: 467/2019/DS-PT ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã công nhận việc ông Đào Văn D và bà Lê Thị T1 là đương sự trong vụ án tự nguyện trả toàn bộ giá trị tài sản trên đất số tiền 486.394.000 đồng cho bà Trịnh Thị Cẩm L.
1.4. Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông đã tổ chức cưỡng chế thi hành giao thửa đất 2034, 2047 một phần diện tích căn nhà và 02 kiốt cho người được thi hành án; căn nhà còn lại và 01 kiốt và diện tích thửa đất 1092 không thuộc phạm vi được thi hành án. Ngày 27-7-2023, bà L có đơn yêu cầu nhận các khoản tiền được thi hành án. Ngày 07-8-2023, bà L đã được Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông trả số tiền 1.838.683167 đồng được thi hành án, nhưng vẫn không giao diện tích thửa đất 1092 và tài sản trên đất cho bà N. Do vậy, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Trịnh Thị Cẩm L trả cho bà Nguyễn Thị N diện tích đất thửa đất 1092, diện tích 150m², tờ bản đồ số 04 và toàn tài sản gắn liền với đất, tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng); buộc bà L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đối với đất thửa đất 1092 nêu trên.
2. Bị đơn là bà Trịnh Thị Cẩm L: Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông đều vắng mặt. Tại phiên tòa phúc thẩm bà L trình bày: Nguồn gốc thửa đất 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m² tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông được tách ra từ thửa đất 222, tờ bản đồ 04, diện tích 790m², tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (bà L được nhận thừa kế hợp pháp từ mẹ đẻ là bà Trịnh Thị Thúy B). Các bản án trước đây của Tòa án các cấp đã xét xử và quyết định liên quan đến thửa đất nêu trên không đúng pháp luật, do đó bà L không đồng ý giao thửa đất 1092 và tài sản trên đất cho bà N; đồng thời sẽ có nghĩa vụ trả lại toàn bộ số tiền đã nhận từ cơ quan thi hành án dân sự.
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Minh N4 (chồng bà Trịnh Thị Cẩm L) trình bày: Nguồn gốc thửa đất 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m² nêu trên bà L đã trình bày. Bản án sơ thẩm: 04/2018/DS-ST ngày 10-7-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông và Bản án phúc thẩm số: 467/2019/DSPT ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết ông Bùi Xuân L2 được nhận thừa kế và có nghĩa vụ trả giá trị di sản cho bà L được hưởng 1.380.000.000 đồng là không đúng pháp luật; đồng thời bà L đang có đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với các bản án trên. Ngoài ra, các bản án trên đều không đề cập đến quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị N đối với thửa đất số 1092, do đó gia đình ông N4 có quyền sử dụng thửa đất này cùng tài sản trên đất và sẽ trả lại số tiền đã nhận tại cơ quan thi hành án dân sự.
3.2. Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP C– Chi nhánh tỉnh Đ: Hiện nay, bà N đang thế chấp thửa đất 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m² tọa lạc tại tổ dân phố 2 N, phường B, tỉnh Lâm Đồng để đảm bảo đối với hợp đồng tín dụng, nhưng chưa đến hạn trả nợ. Do đó, Vietinbank- Chi nhánh Đ đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
4. Bản án số: 53/2024/DS-ST ngày 28-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N: Buộc bà Trịnh Thị Cẩm L phải trả cho bà Nguyễn Thị N diện tích đất 150m² đối với thửa đất 1092 tờ bản đồ số 04; chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 150m², 01 ki ốt, toàn bộ phần còn lại của căn nhà gắn liền với thửa đất 1092 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất. Thửa đất có tứ cận: Phía Đông Nam giáp đường Chu Văn An; phía Tây giáp thửa 2046 (ông Nguyễn Văn V); phía Nam giáp thửa 2034 (ông Nguyễn Hữu D1);phía Bắc giáp ông Tăng Quốc Q1.(Kèm theo mảnh trích đo địa chính số 28-2024, hệ toạ độ VN-2000 ngày 17-5-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố G, tỉnh Đắk Nông lập). Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
5. Đơn kháng cáo quá hạn ngày 20-5-2025 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh N4 đã kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DS-ST ngày 28-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông để giải quyết lại. Quyết định số: 12/2025/QĐPT, ngày 11-7-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Chấp nhận kháng cáo quá hạn của ông Nguyễn Minh N4.
6. Tại phiên tòa phúc thẩm:
6.1. Ông Nguyễn Minh N4 giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Thực tế gia đình ông N4 đang sử dụng đất và sở hữu toàn bộ tài sản trên đất tại thửa 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m² từ trước khi ông L2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác đến hiện nay. Các Bản án số: 04/2018/DS-ST ngày 10-7-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, Bản án số: 467/2019/DS-PT ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án số: 53/2024/DS-ST ngày 28-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đều không đúng pháp luật, không xem xét giải quyết các quyền lợi hợp pháp của gia đình ông N4. Mặt khác, năm 2016 Ủy ban nhân dân (UBND) thị xã G, tỉnh Đăk Nông đã có văn bản yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền tạm dừng mọi hoạt động giao dịch liên quan đến thửa đất đã cấp cho ông Bùi Xuân L2 ngày 04-5-2010. Do đó, việc cấp GCNQSDĐ trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) giữa ông Bùi Xuân L2, bà Trần Thị Mỹ T2 với ông Nguyễn Văn V, bà Trần Thị Mỹ N2; hợp đồng CNQSDĐ ngày 16-10-2020 giữa ông Nguyễn Văn V, bà Trần Thị Mỹ N2 với bà Nguyễn Thị N đối với thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m², tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông không đúng pháp luật.
6.2. Luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bản án số: 53/2024/DS-ST ngày 28-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng đã xem xét, đánh giá toàn bộ là có căn cứ, đúng pháp luật. Bởi từ các bản án có hiệu lực pháp luật, kết hợp với việc các bên liên quan đã thanh toán đầy đủ giá trị nhà, giá trị đất cho bà L. Như vậy, bà L không còn quyền sử dụng, không còn quyền sở hữu đối với toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với thửa đất 1092. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định bổ sung, bà L và ông N4 tiếp tục khẳng định họ là người đang quản lý sử dụng thửa đất và căn nhà nêu trên, nhưng cũng không đưa ra được căn cứ, chứng cứ nào mới chứng minh cho quyền sử dụng, quyền sở hữu của mình cũng như không có chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ. Ngoài ra, trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã đề nghị rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1092, xét thấy yêu cầu này không cần thiết phải giải quyết vì thuộc phạm vi giải quyết của yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất, nên đề nghị tòa án xem xét chấp nhận, không xem xét giải quyết yêu cầu buộc chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, chỉ xem xét giải quyết yêu cầu buộc bị đơn phải bàn giao cho nguyên đơn toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền với đất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Minh N4.
6.3. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 20-10-2025, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 21-12-2023 về việc buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đối với thửa đất 1092; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh N4.
6.4. Bị đơn là bà Trịnh Thị Cẩm L trình bày: Tuy bà L không kháng cáo bản án sơ thẩm, nhưng đồng ý với các nội dung ông N4 đã trình bày và bổ sung sẽ trả toàn bộ số tiền đã nhận từ cơ quan thi hành án dân sự, ngoài ra không có ý kiến khác.
6.5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu: Nguồn gốc các thửa đất 1092, 2043,2046 và 2047được tách ra từ thửa 222, diện tích 790m², ông Bùi Xuân L2 được ông Bùi Văn H1 lập di chúc tặng cho. Ngày 04-5-2010, ông L2 đã được cấp GCNQSDĐ và đã chuyển nhượng thửa đất 1092 cho ông V, bà N2. Quá trình giải quyết vụ án trước đây, ông V, bà N2 đều có lời khai xác nhận việc nhận chuyển nhượng của ông L2 vào năm 2014. Do đó, ông L2 phải bàn giao đất cho ông V, bà N2 theo hợp đồng đã chuyển nhượng. Tại Bản án số: 467/2019/DS-PT ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trịnh Thị Cẩm L về việc hủy các hợp đồng CNQSDĐ và GCNQSDĐ liên quan đến thửa đất số 222, tờ bản đồ 04; đồng thời, xác định ông L2 được hưởng di sản thừa kế đối với thửa đất số 222, tờ bản đồ 04 và phải thanh toán cho bà L 1.380.000.000đồng; công nhận việc trả giá trị tài sản trên đất cho bà L số tiền là 486.394.000đồng. Ngày 07-8-2023, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông đã giao trả 1.838.683.000đồng cho bà L. Như vậy, lẽ ra cơ quan thi hành án dân sự phải cưỡng chế giao tài sản cho ông L2 và những người nhận chuyển nhượng hợp pháp đối với toàn bộ 04 thửa đất, trong đó có thửa 1092 (nhưng chỉ cưỡng chế thi hành án đối với thửa đất 2034 và 2047). Mặt khác, Công văn số: 494/CV-TANDCC ngày 27-3-2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải thích bản án cho rằng do không có yêu cầu độc lập nên không giải quyết đối với thửa đất là 2046 và 1092, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác là không phù hợp. Do vậy, mặc dù nguyên đơn nhận chuyển nhượng thửa đất tranh chấp sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng chưa nhận được diện tích đất đã được cưỡng chế thi hành án. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án trong khi vụ việc đã được giải quyết theo quy định của pháp luật, đáng lẽ phải trả đơn khởi kiện cho nguyên đơn và đình chỉ vụ án. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 308, Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Minh N4: Hủy Bản án số: 53/2024/DS-ST ngày 28-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa (nay là TAND khu vực 6- Lâm Đồng) và đình chỉ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến các đương sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo quá hạn ngày 20-5-2025 của ông Nguyễn Minh N4 đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DS-ST ngày 28-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6- Lâm Đồng) đã được chấp nhận tại Quyết định số: 12/2025/QĐ-PT ngày 11-7-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Ngoài ra, ông N4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên bị đơn nên có quyền kháng cáo toàn bộ bản án theo quy định tại khoản 22 Điều 70, khoản 1 Điều 72 và khoản 4 Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người đại diện theo ủy quyền của của ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị Mỹ N2(người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) là bà Trần Thị Mỹ L1 và ông Nguyễn Văn Q: Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã triệu tập hợp lệ 02 lần, do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.
[1.3]. Đối với nội dung nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện bổ sung về việc buộc bà Trịnh Thị Cẩm L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đối với thửa đất 1092 là tự nguyện, không trái pháp luật, bị đơn không có ý kiến khác. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 5; điểm d khoản 1 Điều 289; Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự: hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đối với nội dung đã rút yêu cầu khởi kiện.
[2]. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Minh N4:
[2.1]. Ngày 04-5-2010, ông Bùi Xuân L2 được Ủy ban nhân dân (UBND) thị xã G, tỉnh Đăk Nông cấp GCNQSDĐ số BB039661, thửa đất số 222, tờ bản đồ số 04, diện tích 790m², tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; các thửa đất số 1092, 2034, 2046 và 2047 được tách ra từ thửa đất 222 nêu trên. Ngày 03-10-2014 ông Bùi Xuân L2 và bà Trần Thị Mỹ T2 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị N2 thửa đất 1092. Đến ngày 19-11-2014, ông V, bà N2 được cấp GCNQSDĐ số BU 807676, thửa đất 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m², tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông:
[2.1.1]. Quá trình giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 10/2017/TLST-DS ngày 26-6-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông “Về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy di chúc; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, bà Trịnh Thị Cẩm L tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có yêu cầu độc lập, cụ thể: Yêu cầu hủy di chúc của ông H1, hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông L2, hủy hợp đồng CNQSDĐ giữa ông L2, bà T2 với ông D, bà T1, hủy hợp đồng CNQSDĐ giữa ông D, bà T1 với ông T3, hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông T3. Bản án phúc thẩm số: 467/2019/DS-PT ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: “...2) Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Trịnh Thị Cẩm L, tuyên vô hiệu một phần di chúc của ông Bùi Văn H1 đối với phần di sản của bà Trịnh Thị Thúy B. 3) Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Bùi Xuân L2. Ông Bùi Xuân L2 được hưởng di sản thừa kế quyền sử dụng đất của bà Trịnh Thị Thúy B. Ông Bùi Xuân L2 có nghĩa vụ trả cho ông Trịnh Ngọc A và bà Trịnh Thị Cẩm L mỗi người 1.380.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm tám mươi triệu đồng) là giá trị đối với phần di sản mà ông A, bà L được hưởng từ bà Trịnh Thị Thúy B. 4) Công nhận việc ông Đào Văn D và bà Lê Thị T1 tự nguyện trả lại giá trị nhà, ki ốt xây dựng trên đất cho bà Trịnh Thị Cẩm L số tiền là 486.394.207đ (bốn trăm tám mươi sáu triệu ba trăm chín mươi tư nghìn hai trăm lẻ bảy đồng). 5) Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trịnh Thị Cẩm L về hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến thửa đất số 222, tờ bản đồ 04, diện tích 790m², tọa lạc tại tổ B, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông”. Ngày 27-7-2023, bà L có đơn yêu thi hành án, đến ngày 07-8-2023 đã được Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông trả số tiền 1.838.683.167 đồng.
[2.1.2]. Ngày 16-10-2020, ông Nguyễn Văn V, bà Trần Thị N2 chuyển nhượng thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 04, diện tích 150m², tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông cho bà Nguyễn Thị N. Đến ngày 02-11-2020, bà Nguyễn Thị N đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố G thực hiện nội dung đăng ký biến động theo quy định của pháp luật. Như vậy, bà Nguyễn Thị Ngọc N5 chuyển nhượng thửa đất số 1092 của ông V, bà N2 nêu trên sau khi đã có bản án có hiệu lực pháp luật. Tại biên bản làm việc ngày 20-10-2025 (bút lục số 309) của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N trình bày: Trước khi giao kết hợp đồng CNQSDĐ các bên đã biết rõ thửa đất 1092, tờ bản đồ số 4 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị Mỹ N2 đã được giải quyết tại Bản phúc thẩm số: 467/2019/DS-PT ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, giữa các bên đã thỏa thuận kể từ thời điểm hợp đồng CNQSDĐ được công chứng thì giữa ông V, bà N2 với bà N không có nghĩa vụ gì khác kể cả việc bàn giao thửa đất trên và tài sản trên đất cho bà N (bà N có trách nhiệm yêu cầu bà Trịnh Thị Cẩm L về việc giao đất và tài sản trên đất theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 16-10-2020).
[2.1.3]. Các Bản án số: 04/2018/DS-ST ngày 10-7-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông và Bản án số: 467/2019/DS-PT ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không quyết định quyền và nghĩa vụ giữa ông V và bà N2 với bà Nguyễn Thị N và giữa bà L với bà Nguyễn Thị N đối với thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m², tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng). Do vậy, Công văn số: 494/CV-TANDCC ngày 27-3-2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh “Về việc giải thích bản án”, nội dung: “Do thửa đất số 2046 và thửa 1092 Tòa án chưa giải quyết, nếu ông V, bà H2 cho rằng diện tích đất trên hiện do ông bà đã được cấp giấy đỏ nhưng người khác chiếm dụng, quản lý có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu trả lại đất cho mình bằng một vụ kiện dân sự” là phù hợp với các quy định của pháp luật. Thực tế bà Trịnh Thị Cẩm L là người đang quản lý, sử dụng đất và cho rằng việc giải quyết của Tòa án các cấp trước đó không đúng pháp luật nên không giao đất cho bà Nguyễn Thị N. Quá trình hòa giải tại cơ sở bà L đã được chính quyền gửi giấy mời nhiều lần, nhưng không tham gia.
[2.1.4]. Ngoài ra, tại Biên bản làm việc ngày 11-11-2025, giữa Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 06-Lâm Đồng (bút lục số 335), ghi nhận nội dung: Tại phần quyết định của Bản án sơ thẩm: 04/2018/DS-ST ngày 10-7-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông và Bản án phúc thẩm số: 467/2019/DS-PT ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không quyết định nghĩa vụ cụ thể nào phát sinh giữa bà Trịnh Thị Cẩm L đối với bà Nguyễn Thị N để làm căn cứ thi hành án, do đó không đủ điều kiện thụ lý, giải quyết theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự.
[2.1.5]. Như vậy, Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông đã thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với bà Trịnh Thị Cẩm L là không trái với các quy định của pháp luật.
[2.2]. Bên cạnh đó, ngày 25-12-2024, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông căn cứ Bản án sơ thẩm số: 53/2024/DSST ngày 28-9- 2024 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông để ban hành Quyết định thi hành án số: 270/QĐ-CCTHADS. Ngày 12-5-2025, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông ban hành Thông báo số: 699/TB-CCTHDS về việc cưỡng chế đối với thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 04 nêu trên. Đến ngày 16-9-2025, Thi hành án dân sự tỉnh L ban hành Quyết định: 41/THADS(KV6) về việc thu hồi quyết định thi hành án (căn cứ Thông báo số: 184/2025/TB-TA ngày 04-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6-Lâm Đồng về việc Bản án sơ thẩm số: 53/2024/DSST ngày 28-9-2024 chưa có hiệu lực - bị kháng cáo).
[2.3]. Đối với nội dung ông N4 trình bày: Năm 2016, UBND thị xã G, tỉnh Đăk Nông đã ban hành văn bản yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền tạm dừng mọi hoạt động giao dịch liên quan đến thửa đất đã cấp cho ông Bùi Xuân L2 ngày 04-5-2010, nên việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong đó có việc V và bà N2 chuyển nhượng cho bà N thửa đất 1092 là không đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, tại công văn số: 899/UBND-VP ngày 07-7-2016 của UBND thị xã G, tỉnh Đắk Nông (bút lục số 303), nội dung: Yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xem xét, tạm dừng mọi hoạt động giao dịch liên quan đến thửa đất đã cấp cho ông Bùi Xuân L2 ngày 04-5-2010...Tuy nhiên, quyền sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ cho ông Bùi Xuân L2 ngày 04-5-2010 và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đã được giải quyết tại Bản án số: 467/2019/DS-PT ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, ngày 16-10-2020, ông V, bà N2 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 1092 cho bà N và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký biến động là đúng pháp luật.
[2.4]. Như vậy, các hợp đồng CNQSDĐ ngày 03-10-2014 giữa ông Bùi Xuân L2 và bà Trần Thị Mỹ T2 với ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị Mỹ N2; hợp đồng CNQSDĐ ngày 16-10-2020 giữa ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị Mỹ N2 với bà Nguyễn Thị N đối với thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích 150m², tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là tổ dân phố 2 N, phường B, tỉnh Lâm Đồng) đều hợp pháp. Do vậy, bà N có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số số 1092, tờ bản đồ số 04, diện tích 150m2, được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất kể từ ngày 02-11-2020 và được pháp luật bảo vệ.
[3]. Từ các nội dung đã nhận định tại các mục [1], [2] nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh N4, giữ nguyên Bản án số: 53/2024/DS-ST ngày 28-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6-Lâm Đồng).
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, ông Nguyễn Minh N4 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 5, điểm d khoản 1 Điều 289, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đối với nội dung nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà Trịnh Thị Cẩm L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đối với thửa đất 1092, tờ bản đồ số 04, diện tích đất 150m² tọa lạc tại tổ dân phố 2 N, phường B, tỉnh Lâm Đồng.
2. Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 500 và Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh N4; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2025/DS-ST ngày 28-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 -Lâm Đồng), đối với các nội dung:
2.1. Buộc bà Trịnh Thị Cẩm L trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc T4 đất 1092, tờ bản đồ số 04, diện tích đất 150m², tọa lạc tại tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là tổ dân phố 2 N, phường B, tỉnh Lâm Đồng), có tứ cận: Phía Đông giáp đường Chu Văn An; phía Tây giáp thửa đất số 2046; phía Nam giáp thửa đất số 2034; phía Bắc giáp thửa đất của ông Tăng Quốc Q1.
(Kèm theo mảnh trích đo địa chính số 28-2024, hệ toạ độ VN-2000 ngày 17/5/2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố G, tỉnh Đắk Nông lập).
2.2. Buộc bà Trịnh Thị Cẩm L trả cho bà Nguyễn Thị N toàn bộ tài sản trên thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 4, diện tích đất 150m², tọa lạc tại tổ dân phố 2 N, phường B, tỉnh Lâm Đồng, bao gồm:
2.2.1. Ki-ốt: Diện tích 3,6m x 7,9m (kết cấu móng đá, tường xây gạch, mái lợp tôn, trần tôn lạnh, nền gạch men, nhà vệ sinh và vách ngăn bằng nhôm kính), trước nhà là phần hiên diện tích 01m x 02m (kết cấu mái lợp tôn, kèo sắt, nền gạch men).
2.2.2. Căn nhà: Diện tích 4,8m x 11,6m (tạo thành hai phần nhà, cụ thể diện tích 02,7m x 11,6m kết cấu tường gạch, trụ bê tông cốt thép, mái la phông gỗ, nền gạch men; diện tích 02.1m x 11.6m kết cấu tường gạch không tô trát, mái lợp tôn, không nền, không trần); hiên nhà diện tích 02,5m x 02,1m.
2.2.3. Cây trồng: 01 cây mít trên phần diện tích đất trống phía sau căn nhà.
2.3. Buộc bà Trịnh Thị Cẩm L và ông Nguyễn Minh N4 di dời các tài sản đang quản lý, sử dụng (tủ thờ, đồ gia dụng, tôn, cửa gỗ...) nằm trong khuôn viên thửa đất trên.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Ông Nguyễn Minh N4 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0001811 ngày 05-8-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
4. Đối với những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lương Đức Dương |
Bản án số 325/2025/DS-PT ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 325/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
