Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - BẮC NINH

Bản án số: 32/2025/HS-ST.

Ngày 01/12/2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm xuân Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Huy Nhạ và bà Trần Thị Lịch.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Cường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lâm -Kiểm sát viên.

Ngày 01/12/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TLST-HS, ngày 14/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS, ngày 21/11/2025, đối với bị cáo:

- Nguyễn Văn C, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T và con bà Vũ Thị Đ; có vợ: Vi Thị T1 (đã ly hôn); có 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016): Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12/8/2025 Công an xã Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 đối với bị cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt 1.500.000 đồng. Ngày 12/8/2025, UBND xã Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý số 409 đối với bị cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý" trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 12/8/2025. Ngày 27/10/2025, Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 211 đối với bị cáo trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình; nhân thân: Tại Bản án số 39/2021/HSST ngày 28/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình bị cáo

đã bị bị xử phạt 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 06/8/2021, bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 19/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xoá án tích; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B (có mặt)

* Bị hại: Công ty TNHH S. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường M, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Bà Vi Thị V - Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền của bà V: Ông Nông Văn M, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

* Người tham gia tố tụng khác:

- Ông Nguyễn Chí Q - Cán bộ tin học Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh ở tại điểm cầu T là Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy heroine. Do không có tiền để mua ma túy nên C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền mua ma túy về sử dụng. Khoảng 15 giờ ngày 02/9/2025, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Elegant, BKS 36P7-8775 đi từ nhà đến khu vực phường M tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến khu vực tổ dân phố Đ, phường M, tỉnh Bắc Ninh đoạn gần cổng công ty TNHH S thì C phát hiện ở ven đường có nhiều khung sắt, pallet bằng kim loại không có người trông coi nên C nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó, C đi về nhà. Đến khoảng 02 giờ ngày 03/9/2025, C một mình điều khiển xe mô tô trên đi đến khu vực đoạn gần cổng công ty TNHH S để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, C quan sát xung quanh không có người qua lại, C tiến lại gần khu vực để khung pallet bằng kim loại. C xuống xe nhấc 01 khung pallet để lên vai trái của C và ngồi lên xe mô tô đặt khung pallet dọc theo thân xe, cạnh dưới của khung đặt lên bàn để chân phía sau bên trái của xe. Sau đó C điều khiển xe đi trên đường T. Khi đi đến địa phận thôn N, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh cách vị trí biển chỉ dẫn vào di tích lịch sử đình thôn N khoảng 100m, C quan sát thấy không có người qua lại và cỏ mọc um tùm nên C đỗ xe ở lề đường bên phải rồi vác khung pallet cất giấu ở lề đường. Sau đó, C quay lại vị trí cũ tiếp tục trộm cắp 01 khung pallet đặt lên vai trái như lần đầu và tiếp tục di chuyển mang ra cất giấu ở vị trí cũ. Khi C đi đến khu vực ngã 3 đường B thuộc tổ dân phố Đ,

phường M, tỉnh Bắc Ninh thì bị Công an phường M và quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang. Thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 25/CTr-VKS-KV9, ngày 12/11/2025 của Viện Trưởng VKSND Khu vực 9 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà đã phân tích động cơ, mục đích, nhân thân, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên nội dung như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, h khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không.
  • Vể trách nhiệm dân sự: Không xem xét
  • Về vật chứng của vụ án: Áp dung Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Elegant, BKS: 36P7-8775 số khung: RLGSC10GH9H010381, số máy: VMSACAH010381. Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 USB có lưu trữ 02 tệp Video ghi lại hình ảnh bị cáo trộm cắp tại Công ty TNHH S.
  • Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay mặc dù người đại diện theo ủy quyền cho người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nông Văn M vắng mặt. Nhưng ông M đã được Tòa án tống đạt giấy triệu hợp lệ và ông M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của ông M không ảnh hưởng gì đến nội dung vụ án nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông M là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên trong quá trình tiến hành tố tụng các Cơ quan tiến hành tố tụng đều chỉ định người bào chữa cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo đều từ chối chỉ định người bào chữa nên tại phiên tòa không có người bào chữa cho bị cáo.

[2]. Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 03/9/2025. Tại Kết luận định giá tài sản số 158 ngày 05/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 04 giờ ngày 03/9/2025, tại khu vực ngã 3 đường bối Đ thuộc tổ dân phố Đ, phường M, tỉnh Bắc Ninh, lực lượng Công an phường M phối hợp cùng quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn C có hành vi lén lút trộm cắp 02 khung pallet bằng kim loại kích thước (168x100x18)cm của Công ty TNHH S. Tại thời điểm bị chiếm đoạt 02 khung pallet nêu trên có tổng giá trị là 3.300.000 đồng (ba triệu ba trăm nghìn đồng chẵn). Căn cứ vào hành vi và trị giá tài sản bị cáo trộm cắp đã đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xét thấy Cáo trạng số: 25/CT-VKS-KV9 của Viện trưởng VKSND Khu vực 9-Bắc Ninh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tới khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản được luật hình sự bảo vệ. Ngoài ra hành vi của bị cáo làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, đối với bị cáo cần xét xử nghiêm bằng chế tài hình sự mới có tác dụng phòng ngừa chung và giáo dục riêng bị cáo.

Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo đã 02 lần bị xử phạt vi hành chính, 01 lần bị áp dụng biện pháp hành chính và 01 lần bị Tòa án xét xử. Tuy bị cáo đã được xóa án tích, nhưng bị cáo được xác định là người có nhân thân xấu.

Xét về các tình tiết tăng, nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngày 28/6/2021 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Gia Bình 26 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng bị cáo đã được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo. Toàn bộ số tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được CQĐT thu hồi được trả lại cho bị hại và thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Căn cứ các tình tiết nên trên, Hội đồng xét xử xác định bị cáo là người coi thường pháp luật và khó giáo dục nên cần phải cách ly bị cáo một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Liên quan đến vụ án:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo. Xét thấy, quá trình điều tra xác minh xác định: Tối ngày 02/9/2025, C có đến khu vực cánh đồng Đ, phường M, tỉnh Bắc Ninh mua 200.000 đồng ma tuý của một người đàn ông lạ mặt, không quen biết. Sau đó, C đi một mình đến khu vực cánh đồng vắng vẻ không người qua lại để sử dụng hết số ma tuý vừa mua. Bản thân C không thuộc diện quản lý trong 04 trường hợp vi phạm theo Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung ngày 01/7/2025. Vì vậy, ngày 27/10/2025 Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ bằng hình thức phạt cảnh cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe mô tô, không đội mũ bảo hiểm, trong cơ thể có chất ma tuý của bị cáo. Xét thấy, bị cáo đã vi phạm điểm a khoản 5 Điều 18; điểm h khoản 2 Điều 7 và điểm e khoản 9 Điều 7 Nghị định 168 ngày 26/12/2024. Vì vậy, ngày 27/10/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã chuyển tài liệu đến Phòng C1 Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo. Xét thấy, do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không có căn cứ để xác minh làm rõ là phù hợp quy định của pháp luật.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều

173 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản và thuộc diện hộ cận nghèo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không giải quyết.

[5]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Elegant, BKS: 36P7-8775 số khung: RLGSC10GH9H010381, số máy: VMSACAH010381 do Cơ quan Điều tra Công an tỉnh B thu giữ của bị cáo thì thấy: Qua tra cứu xác định chủ xe mô tô là anh Hà Văn T2, sinh năm 1982, nơi cư trú: Bản C, xã V, tỉnh Thanh Hóa. Anh T2 đã bán chiếc xe mô tô trên cho bị cáo vào ngày 15/8/2025 với giá 2.000.000 đồng nhưng không viết giấy tờ mua bán. Qua tra cứu trên hệ thống xe tang vật đã xác định xe mô tô trên không có trong hệ thống xe máy vật chứng. Do vậy, chiếc xe mô tô trên được xác định là tài sản của bị cáo. Xét thấy, bị cáo đã sử dụng chiếc xe mô tô trên vào mục đích trộm cắp, chiếc xe còn giá trị sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 USB có lưu trữ 02 tệp Video ghi lại hình ảnh bị cáo trộm cắp tại Công ty TNHH S. Xét thấy, đây là tài liệu quan trọng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

[6]. Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s, h khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2025. Tạm giam bị cáo 45 ngày, tính từ ngày tuyên án.
  3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Elegant, BKS: 36P7-8775 số khung: RLGSC10GH9H010381, số máy: VMSACAH010381 (theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản giữa Công an tỉnh B và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Bắc Ninh ngày 14/11/2025). Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 USB có lưu trữ 02 tệp Video ghi lại hình ảnh bị cáo trộm cắp tại Công ty TNHH S.
  4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ số tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhân:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND Khu vực 9.
  • - Phòng THADS Khu vực 9.
  • - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Bắc Ninh.
  • - Bị cáo.
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú.
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Xuân Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 01/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Cường TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger