|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
|
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày: 26 - 11 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hưởng
Ông Nguyễn Ngọc Ấn
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Trần K, sinh ngày 11/12/1995, tại tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh); nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Long An (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (chết) và bà Trần Thị C; vợ Dương Thị Thu T, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố tại ngoại điều tra (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1995. Địa chỉ: Đường số D, khu phố T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Võ Thị Quỳnh N1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Khu phố V, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trần Thị C, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh.
- Dương Thị Thu T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp A B, xã B, tỉnh Tây Ninh.
(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10/2024, Nguyễn Trần K nảy sinh ý định chế tạo pháo nổ loại pháo banh để bán kiếm tiền tiêu xài, K sử dụng tài khoản Facebook cá nhân tên “Bi Tết” được đăng ký bằng số điện thoại 0796.749.xxx truy cập vào các trang Facebook học công thức, cách chế tạo pháo nổ loại banh. K đặt mua 2.950.000 đồng các nguyên liệu, vật liệu gồm: chất KCL, chất mũ nhôm, chất lưu huỳnh, cuộn màng nylon (màng bọc thực phẩm), vỏ banh nhựa, cuộn băng keo đen và keo 502 trên trang mạng xã hội đem về nhà K ở ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Long An (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh) để chế tạo. Lợi dụng không có ai ở nhà, từ giữa tháng 10/2024 đến ngày 17/12/2024, K đã chế tạo được 1.500 viên pháo nổ loại banh dạng hình tròn, vỏ nhựa nhiều màu sắc, K đốt thử 10 viên, còn lại 1.490 viên, K sử dụng mạng xã hội Facebook để đăng tải hình ảnh pháo nổ loại pháo banh để chào bán.
Khoảng 00 giờ ngày 18/12/2024, K nhận được tin nhắn từ tài khoản “Bie Chaz” (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua pháo, K và “Bie Chaz” thỏa thuận mua bán 800 viên pháo loại banh với giá 7.000 đồng/01 viên, với số tiền 5.600.000 đồng, “Bie Chaz” đồng ý và yêu cầu gửi hàng cho người nhận có thông tin “A Hiếu 0984102731”, đường D, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là đường D, phường P, TP Hồ Chí Minh), K yêu cầu “Bie Chaz” đặt cọc trước 100.000 đồng thông qua tài khoản số [...] của Ngân hàng V1 thì người này đồng ý. K dùng ứng dụng giao hàng J&T Express tạo 02 (hai) đơn hàng gồm: mã đơn hàng 842545771143, ghi tên mặt hàng giao: bộ khuôn đổ nhựa; mã đơn hàng 842544550201, ghi tên mặt hàng giao: bộ đầu đèn Led xe Future Neo và đóng gói 800 viên pháo nổ thành 02 phần bịt kín, mỗi phần là 400 quả pháo, bỏ trong hộp giấy cho vào túi nylon màu đen và dán kín lại tương ứng với 02 đơn hàng đã tạo. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, K đem 02 gói hàng trên đến bưu cục J&T Express tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) để gửi cho người mua pháo.
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 20/12/2024, anh Đinh Nguyễn Trường V là nhân viên giao hàng của bưu cục J&T EXPRESS tại khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) nhận đơn hàng là 02 thùng giấy carton của K, được bọc kín bằng nylon màu đen bên ngoài gửi cho khách, anh V nghi ngờ là hàng cấm nên đến Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) để trình báo và giao nộp: 02 thùng giấy carton, bên ngoài mặt thùng được dán băng keo đen, trong thùng hàng thứ nhất có 04 túi nylon, mỗi túi chứa các quả hình cầu, nhiều màu sắc, kích thước mỗi quả hình cầu có đường kín 2,8cm; bên trong thùng hàng thứ hai có 08 túi nylon chứa các quả hình cầu nhiều màu sắc, kích thước mỗi quả hình cầu có đường kín 2,8cm. Kết quả kiểm đếm bên trong mỗi thùng chứa 400 viên nhựa hình cầu nhiều màu sắc, đường kín 2,8cm, trên mỗi viên có gắn sợi dây tròn màu trắng, dài 2,5cm (được niêm phong theo quy định pháp luật). Công an thị xã P mời K làm việc, K thừa nhận 800 quả hình cầu do anh Đinh Nguyễn Trường V giao nộp là pháo nổ do K tự chế đồng thời K tự nguyện giao nộp thêm 690 viên pháo loại banh, hình tròn, nhiều màu, đường kính 2,8cm (được niêm phong theo quy định pháp luật). Qua khám nghiệm nhà của K không thu giữ được dụng cụ, đồ vật K dùng vào việc chế tạo pháo nổ do K đã đốt bỏ.
Tại Bản kết luận giám định số: 7909/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh giám định và kết luận: mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là pháo nổ, khối lượng 4,45kg; mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là pháo nổ, khối lượng 3,81kg.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ, xử lý tài liệu, đồ vật như sau:
- 01 điện thoại di động Oppo A7 màu xám, lắp sim số 0796749142 thuộc sở hữu của Nguyễn Trần K sử dụng đặt mua nguyên liệu chế tạo, mua bán pháo nổ.
- Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành tiêu hủy 1.490 quả pháo nổ, tổng trọng lượng 8,26kg theo quy định pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKSKV4 ngày 12 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Trần K về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trần K hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh tham gia phiên tòa vẫn giữ quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38,
Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần K phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Ngoài ra không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo K.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Oppo A7 màu xám thuộc sở hữu của Nguyễn Trần K sử dụng đặt mua nguyên liệu chế tạo, mua bán pháo nổ.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy sim số 0796749142.
- Ngoài ra buộc bị cáo Nguyễn Trần K nộp 100.000đồng tiền thu lợi bất chính.
Đối với 1.490 quả pháo nổ, tổng trọng lượng 8,26kg, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành tiêu hủy theo quy định pháp luật nên không đề nghị xem xét.
Đối với Võ Thị Quỳnh N1 là người chuyển tiền cho bị cáo Nguyễn Trần K: qua làm việc N1 chỉ nhận chuyển tiền dùm, quá trình điều tra không có tài liệu chứng minh Võ Thị Quỳnh N1 là người liên hệ đặt mua pháo nổ từ bị cáo Nguyễn Trần K. Hành vi của Võ Thị Quỳnh N1 không có dấu hiệu phạm tội.
Đối với người đặt mua pháo của Nguyễn Trần K chỉ liên hệ với nhau qua ứng dụng nhắn tin messenger của mạng xã hội Facebook, tài khoản người mua tên “Bie Chaz” là tài khoản ẩn danh, không xác định được thông tin số điện thoại, họ tên, địa chỉ của chủ tài khoản nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Đối với số điện thoại 0984.102.xxx của người mua pháo nổ, qua tra cứu chủ thuê bao là Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1995, ĐKTT: Tổ A, khối Q, phường Q, thành phố Đà Nẵng, P xác định trước đây có đứng tên quản lý sử dụng số thuê bao trên, từ năm 2023 P không còn sử dụng nhưng chưa liên hệ với nhà mạng để đóng sim xóa thông tin chủ thuê bao.
Đối với thông tin người nhận tên A H, qua xác minh tại số D, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là số 46, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) không có ai tên A H sinh sống, đăng ký thường trú, tạm trú.
Đối với bà Trần Thị C, chị Dương Thị Thu T là mẹ và vợ bị cáo Nguyễn Trần K hoàn toàn không biết gì về hành vi chế tạo, mua bán hàng cấm của bị cáo nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trần K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra, phù hợp với Bản ảnh hiện trường; Bản ảnh tiêu hủy vật chứng (pháo nổ), Bản kết luận giám định số 7909/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Trên cơ sở đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng tháng 10/2024, bị cáo Nguyễn Trần Khánh H1 chế tạo pháo nổ loại pháo banh trên các trang mạng xã hội, sau đó bị cáo K đặt mua 2.950.000 đồng các nguyên liệu, vật liệu gồm: chất KCL, chất mũ nhôm; chất lưu huỳnh; cuộn màng nylon (màng bọc thực phẩm); vỏ banh nhựa, băng keo đen và keo 502 để chế tạo trái phép pháo nổ loại pháo banh bán lấy tiền tiêu xài. Ngày 18/12/2024, tài khoản “Bie Chaz” (không rõ nhân thân, lai lịch) liên hệ đặt mua 800 quả pháo nổ loại banh do bị cáo K tự chế tạo với giá tiền 5.600.000 đồng, yêu cầu gửi hàng cho người nhận “A Hiếu 0984102731", đường D, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là đường D, phường P, TP Hồ Chí Minh), bị cáo K nhận cọc trước 100.000 đồng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo K mang 02 gói hàng chứa 800 viên pháo nổ đến bưu cục J&T Express tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) để gửi cho người nhận. Đến khoảng 13 giờ ngày 20/12/2024, anh Đinh Nguyễn Trường V đi giao hàng cho bị cáo K thì nghi ngờ 02 gói hàng mà bị cáo K gửi cho khách là hàng cấm nên đến Cơ quan Công an trình báo, giao nộp 4,45Kg pháo và bị cáo K giao nộp 3,81Kg pháo, tổng khối lượng pháo thu giữ của bị cáo K là 8,26Kg.
Từ căn cứ trên, xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Trần K đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Trần K theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quy định của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Do đó, hành vi trái pháp luật của bị cáo Nguyễn Trần Khánh C1 xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự; cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Trần K phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Trần K có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trần Khánh thành K1 khai báo, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình và đang chăm sóc mẹ già, nuôi 02 con nhỏ, vợ đang mang thai được chính quyền địa phương xác nhận nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Xét thấy bị cáo Nguyễn Trần K có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo bên ngoài xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[5]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Trần K là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trần K còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có lời trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Trần K.
[7]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 điện thoại di động Oppo A7 màu xám thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Trần K sử dụng đặt mua nguyên liệu chế tạo, mua bán pháo nổ là công cụ phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước và tịch thu tiêu hủy sim số 0796749142.
[8]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Trần K nộp 100.000đồng tiền thu lợi bất chính sung ngân sách Nhà nước.
[9]. Đối với 1.490 quả pháo nổ, tổng trọng lượng 8,26kg, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành tiêu hủy theo quy định pháp luật xong nên không đề cập xem xét.
[10]. Đối với Võ Thị Quỳnh N1 là người chuyển tiền cho bị cáo Nguyễn Trần K: qua làm việc N1 chỉ nhận chuyển tiền dùm, quá trình điều tra không có tài liệu chứng minh Võ Thị Quỳnh N1 là người liên hệ đặt mua pháo nổ từ bị cáo Nguyễn Trần K. Hành vi của Võ Thị Quỳnh N1 không có dấu hiệu phạm tội.
[11].Đối với người đặt mua pháo của Nguyễn Trần K chỉ liên hệ với nhau qua ứng dụng nhắn tin messenger của mạng xã hội Facebook, tài khoản người mua tên “Bie Chaz” là tài khoản ẩn danh, không xác định được thông tin số điện thoại, họ tên, địa chỉ của chủ tài khoản nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
[12].Đối với số điện thoại 0984.102.xxx của người mua pháo nổ, qua tra cứu chủ thuê bao là Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1995, ĐKTT: Tổ A, khối Q, phường Q, thành phố Đà Nẵng, P xác định trước đây có đứng tên quản lý sử dụng số thuê bao trên, từ năm 2023 P không còn sử dụng nhưng chưa liên hệ với nhà mạng để đóng sim xóa thông tin chủ thuê bao.
[13].Đối với thông tin người nhận tên A H, qua xác minh tại số D, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là số 46, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) không có ai tên A H sinh sống, đăng ký thường trú, tạm trú.
[14]. Đối với bà Trần Thị C, chị Dương Thị Thu T là mẹ và vợ bị cáo Nguyễn Trần K hoàn toàn không biết gì về hành vi chế tạo, mua bán hàng cấm của bị cáo nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
[15]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Trần K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần K phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần K 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 26/11/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Trần K về Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Trần K thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Oppo A7 màu xám.
Tịch thu tiêu hủy: sim số 0796749142.
Tang vật trên do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18 tháng 11 năm 2025.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Trần K nộp 100.000đồng tiền thu lợi bất chính sung ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Trần K nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
5. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Thảnh |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH về sản xuất, buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trần K phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”
