Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7- BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập -Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HSST

Ngày 25 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- BẮC NINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thiệp và bà Lê Thị Hồng Vinh.

Những người tiến hành tố tụng khác:

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đắc Văn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Trọng N, sinh năm 1998; Nơi đăng ký HKTT: Tổ D, phường B, thành phố Hải Phòng; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Đỗ Văn T, sinh năm 1974 và bà Lê Thị D (Đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa có.

Tiền sự: không;

Tiền án: Có 01: Tại Bản án số 50/2023/HSST ngày 11/5/2023, TAND quận Lê Chân (cũ), thành phố Hải phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, N chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2025.

Nhân thân:

+ Tại bản án số 128/HSST ngày 21/9/2015, TAND huyện Thủy Nguyên (cũ), thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội “Cướp giật tài sản”, N đã được xóa án tích.

+ Tại Bản án số 138/2016/HSST ngày 31/8/2016, TAND huyện Thủy Nguyên (cũ), thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với 12 tháng tù của Bản án số 128/HSST ngày 21/9/2015 của TAND huyện Thủy Nguyên (cũ), thành phố Hải Phòng thành 42 tháng tù. N đã được xóa án tích.

+ Tại Quyết định số 240/Q Đ-TA ngày 19/11/2019, TAND huyện Thủy Nguyên (cũ), thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 27/6/2022, N chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: - Chị Dương Thị Thủy T1, sinh năm 1995; HKTT: Thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Thôn Á, xã Y, tỉnh Bắc Ninh. (Xin vắng mặt)

- Chị Phạm Thị Á, sinh năm 1996; HKTT: Thôn N, xã H, tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện tại: Thôn Ấ, xã Y, tỉnh Bắc Ninh. (Xin vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1997; HKTT: Tổ D, phường P, tỉnh Thái Nguyên. (Xin vắng mặt)

- Anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 2000; HKTT: Tổ D, phường G, tỉnh Thái Nguyên. (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu massage (mát xa), khoảng 15 giờ ngày 04/08/2025, Đỗ Trọng N điều khiển xe ô tô Vinfast 6, màu đỏ, BKS 99A-908.23 đi từ Thái Nguyên đến quán “Gừng spa” ở thôn Ấ, xã Y, tỉnh Bắc Ninh do chị Dương Thị Thủy T1 làm chủ để mát xa. Khoảng hơn 16 giờ đến nơi, N xuống xe đi bộ vào phòng khách tầng một của quán G thì gặp nhân viên của quán là chị Nguyễn Thị Nguyệt Á1, sinh năm 2008, trú tại thôn T, xã L, tỉnh Yên Bái đang ngồi ở quầy lễ tân. Sau khi nghe chị Nguyệt Á1 giới thiệu các gói dịch vụ mát xa, N chọn gói 500.000 đồng/90 phút làm ở phòng riêng tầng hai của quán. Trong lúc chờ chị Nguyệt Á1 đi vào trong nhà lấy

nước ngâm chân, thì N thấy trên bàn của quầy lễ tân có để 01 máy tính nhãn hiệu Dell Latutide 7480, màu đen của chị Thủy T1 và 01 máy tính nhãn hiệu HP 480g3, màu trắng đang sạc pin của chị Phạm Thị Á là nhân viên tại quán G. N quay lại ghế sofa để ngồi ngâm chân và quan sát thấy chị Nguyệt Á1 đã đi lên tầng hai để chuẩn bị phòng mát xa, tầng một của quán không có ai nên nảy sinh ý định trộm cắp 02 máy tính ở quầy lễ tân để bán lấy tiền. Lúc này, N đứng dậy, nhanh chóng đi đến quầy lễ tân, cầm máy tính Dell Latutite đặt lên trên máy tính HP 480g3, rồi rút sạc pin của máy tính HP 480g3 ra. Sau đó, N cầm 02 máy tính ở tay phải mang ra để trong ô tô rồi điều khiển ô tô đi đến cửa hàng mua bán điện thoại “Cảnh Store” tại đường L, phường Q, tỉnh Thái Nguyên do anh Nguyễn Đức C làm chủ để bán. Do cả 02 máy tính đã hết pin nên anh C chỉ kiểm tra bên ngoài và hỏi N nguồn gốc của máy. N nói với anh C “02 máy tính là của N, do cần tiền nên bán”. Anh C tin là thật, đồng ý mua 02 máy tính với giá là 3.500.000 đồng, trong đó máy tính D1 mua 2.000.000 đồng, máy tính HP 480g3 mua 1.500.000 đồng. Số tiền 3.500.000 đồng nhận từ anh C, nghĩa đã chi tiêu cá nhân hết. Về phía anh C, sau khi mua 02 máy tính từ N, anh C đã bán máy tính Dell Latutide cho một người đàn ông không quen biết với giá 2.000.000 đồng.

Ngày 06/8/2025, chị Dương Thị Thủy T1 và chị Phạm Thị Á có đơn trình báo sự việc bị trộm cắp tài sản. Đến ngày 07/8/2025, N đã đến Công an xã Y để đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Vật chứng thu giữ là 01 máy tính nhãn hiệu HP 480g3, màu trắng, Cpu Core I, Ram 8GB, SSD 256GB, màn hình 14 inch, đã qua sử dụng do anh C giao nộp; 01 đĩa DVD bên trong chứa 02 đoạn video có tên “7065972118178.mp4" và “7065973392844.mp4” được thu giữ từ camera an ninh của quán G ghi lại hình ảnh N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do chị Dương Thị Thủy T1 giao nộp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 250/KL-HĐĐGTS ngày 15/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- 01 chiếc máy tính nhãn hiệu Dell, màu đen, L, Core I, Ram 8GB, SSD 256GB đã qua sử dụng, hiện tại vẫn sử dụng bình thường, không thay thế phụ tùng gì bên trong trị giá 3.500.000 đồng (tại thời điểm định giá ngày 04/8/2025);

- 01 chiếc máy tính nhãn hiệu HP, màu trắng, các thông số HP 480g3, C1, Ram 8GB, SSD 256GB, màn hình 14 inch, đã qua sử dụng, hiện tại vẫn sử dụng bình thường, không thay thế phụ tùng gì bên trong, trị giá 2.800.000 đồng (tại thời điểm định giá ngày 04/8/2025).

Tổng trị giá 02 chiếc xe máy tính trên là 6.300.000 đồng.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 16/CT-VKSKV7 ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh đã truy tố Đỗ Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh đã truy tố. Bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố vụ án, bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội, không bị bức cung, nhục hình buộc để khai nhận hành vi phạm tội và cũng không khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất của vụ án, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng N từ 12 tháng đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/8/2025. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Dương Thị Thủy T1 số tiền 3.500.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Đức C số tiền 1.500.000 đồng.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong chứa 02 đoạn video được thu giữ từ camera an ninh của quán G ghi lại hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do cần tiền chi tiêu cá nhân, khoảng hơn 16 giờ ngày 04/8/2025, tại quầy lễ tân của quán “Gừng Spa” ở thôn Á, xã Y, tỉnh Bắc Ninh, Đỗ Trọng N đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 máy tính nhãn hiệu Dell, màu đen, L, Core I, Ram 8GB, SSD 256GB đã qua sử dụng của chị Dương Thị Thủy T1 và 01 máy tính nhãn hiệu HP, màu trắng, HP 480g3, Cpu Core I, Ram 8GB, SSD 256GB, màn hình 14 inch đã qua sử dụng của chị Phạm Thị Ánh . Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 6.300.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Trọng N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Bản thân bị cáo đã nhiều lần đi cải tạo và được giáo dục nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo nói riêng và phòng ngừa vi phạm pháp luật trong xã hội nói chung.

[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có 01 tiền án và nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử hình sự và áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Tại Bản án số 50/2023/HSST ngày 11/5/2023, Toà án nhân dân quận Lê Chân (cũ), thành phố Hải phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 13/8/2025, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi bị phát hiện, bị cáo đã đến Công an xã Y để đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Do bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho chị Dương Thị Thủy T1 và anh Nguyễn Đức C nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Dương Thị Thủy T1 số tiền 3.500.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Đức C số tiền 1.500.000 đồng. Đối với 01 chiếc máy tính HP 480g3, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Phạm Thị Ánh . Chị Phạm Thị Á không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong chứa 02 đoạn video được thu giữ từ camera an ninh của quán G ghi lại hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, vì đây là tài liệu, căn cứ quan trọng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

Liên quan trong vụ án có anh Nguyễn Đức C đã mua của bị cáo 02 chiếc máy tính; anh Nguyễn Hữu L là người thuê hộ bị cáo chiếc xe ô tô Vinfast 6 màu đỏ, BKS 99A- 908.23 thuộc sở hữu của công ty TNHH M theo hình thức xe tự lái để bị cáo làm phương tiện đi lại. Do anh L không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, anh C không biết máy tính đã mua là do bị cáo phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh L, anh C và không thu giữ chiếc xe ô tô trên là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đã mua chiếc máy tính Dell Latutide 7480, do anh C không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đỗ Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều

333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng N 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/8/2025. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Dương Thị Thủy T1 số tiền 3.500.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Đức C số tiền 1.500.000 đồng.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong chứa 02 đoạn video được thu giữ từ camera an ninh của quán G ghi lại hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 7- Bắc Ninh;
  • - Cơ quan điều tra- Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phân trại tạm giam Từ Sơn/Trại tạm giam số
  • 01 Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Minh Huệ

Thành viên Hội đồng xét xử

Nguyễn Thị Thiệp Lê Thị Hồng V

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Minh H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HSST ngày 25/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 32/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger