Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29 tháng 9 năm 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Xuân Luyện và bà Lê Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Trần Kim Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2025/QĐST - HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bế Như U, sinh năm 1999; nơi cư trú: Xóm C, thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ) nay là xóm C, thôn H, xã L, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện tại: Số nhà E, Tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (Cũ), nay là Số nhà E, Tổ A, xã B, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hà Quang C - nhân viên tại Công ty L; địa chỉ: Tầng G, số C N, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội (Cũ), nay là phường Y, Hà Nội, vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm C, thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ), nay là xóm C, thôn H, xã L, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/3/2025 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn - chị Bế Như U trình bày: Chị và anh Nguyễn Đình T đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 7 năm 2022 trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ), nay là xã L, tỉnh Ninh Bình cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Xóm C, thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ), nay là xóm C, thôn H, xã L, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 06 (sáu) tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do 2 người chưa tìm hiểu kỹ về nhau mà đã quyết định kết hôn, đến khi vợ chồng về chung sống có nhiều bất đồng trong suy nghĩ và lối sống, mặc dù vợ chồng đã nhiều lần ngồi nói chuyện với nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung, chị U đã cố gắng chịu đựng nhưng vẫn không thể giải quyết những bất đồng. Từ tháng 3/2025 chị U về nhà mẹ đẻ sinh sống, cũng từ đó vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai vợ chồng không có bất kỳ biện pháp nào để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm. Mâu thuẫn vợ chồng cũng đã được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng không có kết quả. Nay, chị U xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình T.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Thái K, sinh ngày 19/01/2023, hiện cháu đang được chị U nuôi dưỡng, chăm sóc. Con nuôi, con riêng vợ chồng chị: Không có; hiện nay chị U không mang thai. Khi ly hôn, chị U có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu K và yêu cầu anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng với chị, với mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/01 tháng (kể từ tháng kế tiếp khi bản án có hiệu lực pháp luật) cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi và lao động tự lập được.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp, cấp dưỡng khi ly hôn: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị U không còn đề nghị gì khác.

* Tại Bản tự khai ngày 31/12/2022, bị đơn - anh Nguyễn Đình T trình bày: Về thời điểm, thủ tục, nơi đăng ký kết hôn, anh T cũng xác định như chị U đã trình bày. Đối với mâu thuẫn vợ chồng chị U trình bày chưa chính xác. Cụ thể: Khi anh T gặp vấn đề trong công việc dẫn đến 04 tháng không đưa được tiền lương cho chị U như những tháng trước đó do vậy anh T và chị U ít nói chuyện và ít trao đổi dẫn đến bất đồng trong quan điểm sống. Khoảng tháng 3/2025 chị U đã tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống mà không thông báo gì với anh T, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong quá trình sống ly thân anh T có gọi điện để nói chuyện về việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị U nhưng chị U không đồng ý. Mâu thuẫn vợ chồng cũng đã được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng không có kết quả. Nay, chị U làm đơn xin ly hôn, anh T xác định mặc dù vợ chồng có chút mâu thuẫn nhưng tình cảm anh dành cho chị U vẫn còn nên anh T mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái, nếu chị U kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh T xác định, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Thái K, sinh ngày 19/01/2023, hiện cháu đang được chị U nuôi dưỡng, chăm sóc. Về con nuôi, con riêng: Vợ chồng không có. Khi ly hôn, anh T có nguyện vọng được nuôi cháu K và không yêu cầu chị U phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.

Về con nuôi, con riêng: Vợ chồng anh T không có. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp, cấp dưỡng khi ly hôn: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh T không có đề nghị gì khác.

* Xác minh tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Nam xác định: Chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 55, ngày 20 tháng 7 năm 2022. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại Xóm C, thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ). Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khi nào thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do đâu thì chính quyền địa phương không nắm rõ mà chỉ nghe nói vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng nhiều mặt trong quan điểm sống và anh chị đã sống ly thân từ khoảng cuối tháng 3/2025 cho đến nay. Khi chị U làm đơn xin ly hôn với anh T, chị U gửi đơn xin ly hôn trực tiếp đến Tòa án không thông qua chính quyền địa phương do vậy chính quyền địa phương cũng không rõ được tâm tư, nguyện vọng của anh, chị. Nay, chị U xin ly hôn anh T, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo tâm tư, nguyện vọng của anh, chị và theo quy định của pháp luật. Về con chung, tài sản chung, công nợ (nếu có) thì cũng đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Hiện chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T làm công việc cụ thể thế nào, thu nhập bao nhiêu một tháng thì chính quyền địa phương không nắm được.

* Tại phiên tòa,

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15; Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho ly hôn giữa chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T. Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Nguyễn Đình Thái K, sinh ngày 19/01/2023 cho chị U nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi cháu K 18 tuổi trưởng thành lao động tự lập. Anh T có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con từ 2.000.000 đến 3.000.000 đồng. Về con nuôi, con riêng anh T, chị U không có, nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp, cấp dưỡng khi ly hôn: Các đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh T và chị U phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị Bế Như U có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Nguyễn Đình T hiện đang cư trú tại Xóm C, thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ), nay là xóm C, thôn H, xã L, tỉnh Ninh Bình; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm (cũ) nay là Toà án nhân dân Khu vực 5 - Ninh Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 sự và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt phiên toà lần thứ 2. Do đó, căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T là trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ). Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, dẫn đến tình cảm ngày một phai nhạt. Từ khoảng tháng 03 năm 2025 đến nay, vợ chồng anh T, chị U đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, trong thời gian sống ly thân anh, chị không có bất kỳ biện pháp nào để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng không thành. Chị U yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh T xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn về đoàn tụ; trường hợp chị U kiên quyết xin ly hôn thì anh T đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị U xin ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung, con nuôi, con riêng: Chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Thái K, sinh ngày 19/01/2023. Cháu Thái K hiện tại dưới 36 tháng tuổi và đang sống ổn định cùng chị U, nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Thái K, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Thái K cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và đúng với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị U yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/01 tháng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi và lao động tự lập được, Hội đồng xét xử nhận thấy anh T hiện không có công ăn việc làm ổn định, thu nhập thất thường thì việc phải cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/01 tháng theo yêu cầu của chị U là vượt quá khả năng. Chị U cũng là người lao động có thu nhập, cháu Thái K hiện đang dưới 36 tháng tuổi nên nhu cầu thực tế chưa cao, vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của chị U, buộc anh T cấp dưỡng nuôi cháu Thái K với mức 2.000.000 đồng/tháng cũng đảm bảo cho cuộc sống cháu cũng như phù hợp với khả năng anh T.

Về con riêng, con nuôi: Anh T, chị U không có nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: Chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

[5] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Bế Như U được chấp nhận nên chị U phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các điều; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đình Thái K, sinh ngày 19/01/2023 cho chị Bế Như U trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu Thái K đủ 18 tuổi lao động tự lập được. Chấp nhận một phần yêu cầu của chị Bế Như U về việc yêu cầu anh Nguyễn Đình T cấp dưỡng nuôi con. Buộc anh Nguyễn Đình T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Đình Thái K, sinh ngày 19/01/2023 mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Đình Thái K tròn 18 tuổi lao động tự lập được. Các bên được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị Bế Như U và các thành viên trong gia đình không được ngăn cản việc anh Nguyễn Đình T thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Nguyễn Đình K.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bế Như U phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị U đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm (C) nay là Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001335 ngày 28 tháng 4 năm 2025. Anh Nguyễn Đình T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T vắng mặt tại phiên toà, được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - Cổng Thông tin điện tử của Tòa án;
  • - Đương sự;
  • - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn;
  • - UBND xã Liêm Hà, tỉnh Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Văn Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Bế Như U và anh Nguyễn Đình T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ). Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, dẫn đến tình cảm ngày một phai nhạt. Từ khoảng tháng 03 năm 2025 đến nay, vợ chồng anh T, chị U đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, trong thời gian sống ly thân anh, chị không có bất kỳ biện pháp nào để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng không thành. Chị U yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger