Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12-VĨNH LONG

Bản án số: 32/2025/DS-ST

Ngày: 27-9-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Lễ Nghi.
  2. Bà Trần Thị Thúy Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đức Trọn - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12-Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12-Vĩnh Long mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 09/2025/TLST – DS ngày 08 tháng 01 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-DS, ngày 19 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số 04/TB-TA ngày 22 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H

Địa chỉ: B B, N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (nay là 25 B, N, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T, chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lư Thành P, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H - chi nhánh T6. Theo văn bản ủy quyền số 3385/2024/QĐ-TGĐ ngày 22/8/2014.

Ông Lư Thành P ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Khâu Quang V, chức vụ: Chuyên viên QH KH1 Chi nhánh T6. (có mặt)

- Bị đơn:

  1. Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1968. (có mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Kim P1, sinh năm 1968. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp R, xã P, tỉnh Vĩnh Long

(Trước đây là ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh)

Bà Nguyễn Thị Kim P1 ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1968 theo văn bản ủy quyền ngày 28/3/2025

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Văn Tuấn E, sinh năm 1979. (vắng mặt)
  2. Bà Võ Thị M, sinh năm 1979. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã P, tỉnh Vĩnh Long

(Trước đây là ấp M, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh);

  1. Ông Chung Văn T2, sinh năm 1957. (vắng mặt)
  2. Ông Chung Văn T3, sinh năm 1990. (vắng mặt)
  3. Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1963. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp R, xã P, tỉnh Vĩnh Long

(Trước đây là ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh)

  1. Ông Nguyễn Hải Đ (tên thường gọi là T4), sinh năm 1986. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ.

(Trước đây là ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Khâu Quang V là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 02/10/2023 Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H (Ngân hàng H2) đã cho ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 vay tiền theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 26474/23MN/HĐTD ngày 02/10/2023.

Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng

Thời hạn vay: 12 tháng từ ngày 05/10/2023 đến ngày 04/10/2024

Mục đích vay: Bổ sung vốn nuôi heo và chăm sóc vườn (Thanh toán tiền mua con giống, thức ăn, phân bón)

Lãi suất vay tại thời điểm ký kết hợp đồng là 12,0%/năm. Thay đổi theo từng thời kỳ.

Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 26474/23MN/HĐTD ngày 02/10/2023 nêu trên, ông Huỳnh Văn Tuấn E (bên bảo lãnh cho ông T1, bà P1 vay) đã ký kết với H2 các Hợp đồng thế chấp số 19883/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023 và 19884/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023 để thế chấp các tài sản sau:

  • - Thửa đất số 676, tờ bản đồ số 3, diện tích 7072m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 685613, số vào sổ cấp GCN: CS01073 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 18/01/2017cấp cho ông Huỳnh Văn T1 Em.
  • - Thửa đất số 680, tờ bản đồ số 3, diện tích 6624m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc TrăngGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 685793, số vào sổ cấp GCN: CS01072 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 18/01/2017cho ông Huỳnh Văn Tuấn E.
  • - Thửa đất số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² đất tọa lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 054480, số vào sổ cấp GCN: CH01106 do UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp ngày 31/10/2012 để thừa kế cho ông Huỳnh Văn T1 Em ngày 28/3/2020.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nợ nhưng ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng dẫn đến vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết.

Tính đến ngày 27/9/2025, tổng số tiền mà ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 còn nợ Ngân hàng là 2.372.265.632 đồng. (Trong đó: Gốc 1.935.242.470 đồng, lãi trong hạn 58.129.658 đồng, lãi quá hạn 378.893.504 đồng)

Nay Ngân hàng H2 yêu cầu ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn phát sinh, các phí khoản vay phát sinh (nếu có) theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký cho H2 với tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2025 là 2.372.265.632 đồng. (Trong đó: Gốc 1.935.242.470 đồng, lãi trong hạn 58.129.658 đồng, lãi quá hạn 378.893.504 đồng). Buộc ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 phải thanh toán phần nợ phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với H2 từ ngày 28/9/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trước đây Ngân hàng có yêu cầu, trường hợp ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho H2 thì Ngân hàng yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp tại H2 theo Hợp đồng thế chấp số 19883/23MN/HĐBĐ và 19884/23MN/HĐBĐ, toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 tại H2, thì ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ. Sau khi nhận được kết quả thẩm định đo đạc do chi

nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thì đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² đất tọa lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh trên đất có phần mộ ký hiệu (B1) diện tích 33,1m² và phần (B) diện tích 121,9m² do đó Ngân hàng không yêu cầu phát mãi đối với phần diện tích đất này, các phần còn lại thì giữ nguyên yêu cầu như ban đầu.

Ông Huỳnh Văn T1 là bị đơn trình bày:

Ông T1 thừa nhận ngày 02/10/2023, ông và bà P1 có vay của Ngân hàng TMCP P (H2) theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 26474/23MN/HĐTD ngày 02/10/2023. Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng. Thời hạn vay: 12 tháng từ ngày 05/10/2023 đến ngày 04/10/2024.

Mục đích vay theo hợp đồng là: Bổ sung vốn nuôi heo và chăm sóc vườn (Thanh toán tiền mua con giống, thức ăn, phân bón), tuy nhiên thực tế là em ruột ông T1 là ông Huỳnh Văn T1 Em nhờ ông, bà đứng vay dùm. Việc thỏa thuận vay dùm này không có làm giấy tờ gì.

Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 26474/23MN/HĐTD ngày 02/10/2023 nêu trên, ông Huỳnh Văn T1 Em có đứng bảo lãnh bằng các Hợp đồng thế chấp số 19883/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023 và 19884/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023 để thế chấp các tài sản sau:

  • - Thửa đất số 676, tờ bản đồ số 3, diện tích 7072m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 685613, số vào sổ cấp GCN: CS01073 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 18/01/2017cấp cho ông Huỳnh Văn T1 Em.
  • - Thửa đất số 680, tờ bản đồ số 3 diện tích 6624m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăngeo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 685793, số vào sổ cấp GCN: CS01072 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 18/01/2017cấp cho ông Huỳnh Văn T1 Em.
  • - Thửa đất số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² đất tọa lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà VinhGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 054480, số vào sổ cấp GCN: CH01106 do UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp ngày 31/10/2012 để thừa kế cho ông Huỳnh Văn T1 Em ngày 28/3/2020.

Tính đến nay, ông và bà P1 không có trả tiền gốc cho Ngân hàng, nhưng ông và bà P1 có đóng lãi cho Ngân hàng, nhưng không nhớ đóng được bao nhiêu tiền lãi. Tiền đóng lãi là ông Tuấn E đi làm bên N gửi về đóng lãi cho Ngân hàng một phần, ông và bà P1 rút tiền vay cấp thẻ tín dụng để đóng lãi Ngân hàng một phần. Ông chỉ biết gia đình ông Tuấn E đã đi làm bên nước Nhật Bản còn địa chỉ cụ thể thì ông không biết và không cung cấp được.

Nay Ngân hàng H2 yêu cầu ông và bà Nguyễn Thị Kim P1 phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn phát sinh, các phí khoản vay phát sinh (nếu có) theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký cho H2 với tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2025 là

2.372.265.632 đồng. (Trong đó: Gốc 1.935.242.470 đồng, lãi trong hạn 58.129.658 đồng, lãi quá hạn 378.893.504 đồng) và phải thanh toán phần nợ phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với H2 từ ngày 28/9/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Mặc dù, ông và bà P1 vay dùm cho ông Tuấn E nhưng ông thừa nhận đã ký kết các hợp đồng tín dụng nay ông và vợ là bà Nguyễn Thị Kim P1 cũng thống nhất trả nợ theo yêu cầu trên của Ngân hàng.

Đối với yêu cầu phát mãi tài sản của Ngân hàng trên thửa đất 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² hiện nay trên đất có 01 căn nhà cấp 4 ông và bà P1 đang ở, trường hợp phát mãi tất cả diện tích đất đã thế chấp trên mà không đủ để trả nợ cho Ngân hàng ông và bà P1 cũng thống nhất giao căn nhà trên đất để phát mãi thu hồi nợ cho Ngân hàng. Đối với nền mộ và 02 ngôi mộ trên thửa đất 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² là mộ của cha, mẹ ông nên ông đề nghị không phát mãi phần diện tích này.

Ông Huỳnh Văn T1 là người nhận ủy quyền tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị Kim P1 là đồng bị đơn trình bày:

Bà P1 thống nhất với lời trình bày của ông T1, không bổ sung hay yêu cầu gì thêm.

Bà Huỳnh Thị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Hiện nay bà đang quản lý sử dụng thửa đất số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m², đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh do ông Huỳnh Văn Tuấn E đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ thể, thửa đất này của cha, mẹ của bà là ông Huỳnh Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị N1, sau khi cha, mẹ chết thì đến tháng 3/2020 anh, chị em trong gia đình đều thống nhất để thừa kế cho ông Huỳnh Văn T1 Em đứng tên thừa kế thửa đất này. Trên thửa đất này cha, mẹ bà có cho ông T1 01 phần đất nền để cất nhà, và cho bà 0 phần đất nền để cất nhà vào năm 2012 ngoài ra trên đất còn có 01 căn nhà của ông Tuấn E. Đến khoảng năm 2023, do năm 2019 ông Tuấn E có hỏi nợ bà 11 cây vàng và 130.000.000 đồng nên ông Tuấn E và vợ là bà Võ Thị M kêu bà quản lý và sử dụng để thu hoa lợi trên đất, lúc này ông Tuấn E và vợ đã đi Nhật Bản để sinh sống và làm việc.

Việc ông Tuấn E thế chấp thửa đất số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m², đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh để bào đảm cho ông Huỳnh Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim P1 vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H thì bà có biết việc này và cũng thống nhất cho ông Tuấn E thế chấp.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H yêu cầu ông Huỳnh Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim P1 trả nợ đã vay cho Ngân hàng, trường hợp ông T1, bà P1 không trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản đã thể chấp trong đó có thửa đất số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m², đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì trường hợp phát mãi tất cả diện tích đất đã thế chấp trên mà không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì bà cũng thống nhất giao đất và căn nhà trên đất để phát mãi thu hồi nợ cho Ngân

hàng. Đối với nền mộ và 02 ngôi mộ trên thửa đất 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² là mộ của cha, mẹ bà nên bà đề nghị không phát mãi phần diện tích này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hải Đ vắng mặt có lời khai trình bày như sau:

Hiện nay ông đang sử dụng thửa đất do ông Huỳnh Văn T1 Em đứng tên quyền sử dụng đất ông không biết rõ số thửa, chỉ biết diện tích khoảng 10 công tầm cấy và đất là của ông Tuấn E, lý do ông đang quản lý sử dụng thửa đất này là do ông thuê lại của ông Tuấn E. Đất này có nguồn gốc là do cha của ông là ông Nguyễn Văn C thuê của ông 3 L (không biết họ tên cụ thể) tặng cho con là ông T5 (không biết họ tên cụ thể), ở huyện K (không biết địa chỉ cụ thể), thời điểm này ông phụ cha ông canh tác đất. Sau đó, ông T5 chuyển nhượng thửa đất này cho ông Tuấn E (thời gian nào ông không nhớ), sau khi nhận chuyển nhượng xong ông Tuấn E có qua gặp ông để cho ông biết là ông Tuấn E đã chuyển nhượng thửa đất này xong và hỏi ông có muốn tiếp tục thuê nữa hay không thì ông đồng ý tiếp tục thuê chỉ thỏa thuận miệng với nhau. Hình thức thuê là mỗi vụ lúa ông đóng số tiền 6.000.000 đồng cho ông Tuấn E. Không có thỏa thuận thời gian cho thuê. Sau đó ông tiếp tục trồng lúa cho đến nay. Trên đất chỉ trồng lúa ngoài ra không còn tài sản gì khác.

Việc ông Huỳnh Văn Tuấn E thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo cho ông Huỳnh Văn T1 vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H thì ông không biết. Tuy nhiên, ông cũng thống nhất giao đất lại cho ông Tuấn E để cho Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản, trường hợp có tài sản (lúa) trên đất thì ông sẽ tự thỏa thuận với ông Tuấn E nếu không thỏa thuận được ông sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác. Trong vụ án này ông không có yêu cầu gì.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Tuấn E, bà Võ Thị M, ông Chung Văn T2, ông Chung Văn T3 không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Tuấn E, bà Võ Thị M, ông Chung Văn T2, ông Chung Văn T3 đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng phiên tòa hôm nay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Tuấn E, bà Võ Thị M, ông Chung Văn T2, ông Chung Văn T3 vẫn vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H buộc ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H số tiền tính đến ngày 27/9/2025 là 2.372.265.632 đồng. (Trong đó: Gốc 1.935.242.470 đồng, lãi trong hạn 58.129.658 đồng, lãi quá hạn 378.893.504 đồng). Kể từ ngày 28/9/2025, ông T1, bà P1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên.

Trường hợp ông T1, bà P1 không trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp số: 19883/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023 và 19884/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023 để thu hồi nợ cho Ngân hàng, gồm: Thửa đất số 676, tờ bản đồ số 3, diện tích 7072m² và ERGEFIELD TĐ3 Thửa đất số 680, tờ bản đồ số 3 diện tích 6624m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng(nay là ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ); Thửa đất số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² đất tọa lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinhlà ấp R, xã P, tỉnh Vĩnh Long), đối với phần đất có phần mộ ký hiệu (B1) diện tích 33,1m² và phần (B) diện tích 121,9m², Ngân hàng không yêu cầu phát mãi đối với phần diện tích đất ký hiệu (B1), (B) do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí, chi phí thẩm định đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn mục đích vay để Bổ sung vốn nuôi heo và chăm sóc vườn (Thanh toán tiền mua con giống, thức ăn, phân bón) nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự và quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ hợp đồng cho vay số 26474/23MN/HĐTD ngày 02/10/2023, bị đơn cư trú tại ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp R, xã P, tỉnh Vĩnh Long) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 12-Vĩnh Long) theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại.

Về quá trình tống đạt các văn bản của Tòa án: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Tuấn E, bà Võ Thị M, ông Chung Văn T2, ông Chung Văn T3 theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Phiên tòa hôm nay là phiên tòa mở lần thứ hai nhưng ông Huỳnh Văn Tuấn E, bà Võ Thị M, ông Chung Văn

T2, ông Chung Văn T3 vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Văn Tuấn E, bà Võ Thị M, ông Chung Văn T2, ông Chung Văn T3.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng số 26474/23MN/HĐTD ngày 02/10/2023 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H và ông Huỳnh Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim P1 và các hợp đồng thế chấp số 19883/23MN/HĐBĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 và 19884/23MN/HĐBĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H và ông Huỳnh Văn T1 Em là hoàn toàn tự nguyện tuân thủ các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 116, 117, 119, 317, 463 của Bộ luật dân sự 2015; đối với các hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định tại khoản 2, Điều 292, Điều 295, Điều 298 Bộ luật dân sự 2015, nên các hợp đồng trên hợp pháp và có hiệu lực pháp luật; các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.

Về quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi ký kết hợp đồng vay vốn Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng đã thực hiện việc giải ngân theo cam kết cho ông T1, bà P1 với số tiền 2.000.000.000 đồng. Tuy nhiên ông T1, bà P1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ hạn đã cam kết từ khi vay cho đến nay ông T1, bà P1 không trả được vốn, lãi cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Do đó việc Ngân hàng yêu cầu ông T1, bà P1 trả số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2025 với tổng số tiền là 2.372.265.632 đồng. (Trong đó: Gốc 1.935.242.470 đồng, lãi trong hạn 58.129.658 đồng, lãi quá hạn 378.893.504 đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2025 theo hợp đồng tín dụng số 26474/23MN/HĐTD ngày 02 tháng 10 năm 2023 cho đến khi trả nợ xong cho Ngân hàng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 Điều 7 khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm; Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, mặt khác ông T1, bà P1 cũng đồng ý trả số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho Ngân hàng. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Như nhận định phần trên, các hợp đồng thế chấp số: 19883/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023 và 19884/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H và ông Huỳnh Văn T1 Em là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành tiến hành thẩm định tài sản thế chấp, từ đó biết được thửa đất thế chấp số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² đất tọa lạc tại ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp R, xã P, tỉnh Vĩnh Long) hiện nay bà Huỳnh

Thị H đang quản lý, sử dụng trồng cây, trên đất có 01 căn nhà của bà H, 01 căn nhà của ông Tuấn E, 01 căn nhà của ông T1 và một phần diện tích là phần mộ, việc ông Tuấn E sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử sụng đất để thế chấp đảm bảo cho ông T1, bà P1 vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H thì ông T1, bà H đều biết, nay trong trường hợp ông T1, bà P1 không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng thì ông T1, bà H đều thống nhất cho Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Đối với thửa đất số 676, tờ bản đồ số 3, diện tích 7072m² và Thửa đất số 680, tờ bản đồ số 3 diện tích 6624m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăngnay do ông Nguyễn Hải Đ đang quản lý sử dụng, mặc dù việc ông Huỳnh Văn Tuấn E thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo cho ông Huỳnh Văn T1 vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H thì ông Đ không biết. Tuy nhiên, ông Đ cũng thống nhất giao đất lại cho ông Tuấn E để cho Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản, trường hợp có tài sản (lúa) trên đất thì ông sẽ tự thỏa thuận với ông Tuấn E nếu không thỏa thuận được ông sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác. Trong vụ án này ông không có yêu cầu gì.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản gồm: Thửa đất số 676, tờ bản đồ số 3, diện tích 7072m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 685613, số vào sổ cấp GCN: CS01073 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 18/01/2017cho ông Huỳnh Văn Tuấn E; Thửa đất số 680, tờ bản đồ số 3 diện tích 6624m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc TrăngGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 685793, số vào sổ cấp GCN: CS01072 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 18/01/2017cho ông Huỳnh Văn Tuấn E; Đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² đất tọa lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà VinhGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 054480, số vào sổ cấp GCN: CH01106 do UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp ngày 31/10/2012 để thừa kế cho ông Huỳnh Văn T1 Em ngày 28/3/2020 Ngân hàng không yêu cầu phát mãi đối với phần diện tích đất có phần mộ ký hiệu (B1) diện tích 33,1m² và phần (B) diện tích 121,9m² xét thấy yêu cầu này là hoàn toàn tự nguyện do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H là có căn cứ chấp nhận.

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị đơn ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp nói trên để thu hồi nợ.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng số tiền chi phí thẩm định tài sản là 27.721.722 đồng số tiền này phía nguyên đơn đã tạm nộp và chi cho việc thẩm định tài sản xong, bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn toàn bộ chi phí thẩm định với số tiền 27.721.722 đồng.

[5] Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-BPKCTT ngày 11 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12-Vĩnh Long trong quá trình giải quyết vụ án bị hủy bỏ.

[6] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 72, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại (Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025).

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, khoản 2, Điều 292, Điều 295, Điều 298, khoản 1 Điều 299, Điều 317, Điều 319, Điều 320, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi lãi suất phạt vi phạm;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H.

Buộc ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H tổng số tiền gốc và lãi còn nợ tính đến ngày 27/9/2025 là 2.372.265.632 đồng (Hai tỷ ba trăm bảy mươi hai triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm ba mươi hai đồng). (Trong đó: Gốc 1.935.242.470 đồng (Một tỷ chín trăm ba mươi lăm triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn bốn trăm bảy mươi đồng), lãi trong hạn 58.129.658 đồng (Năm mươi tám triệu một trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng), lãi

quá hạn 378.893.504 đồng (Ba trăm bảy mươi tám triệu tám trăm chín mươi ba nghìn năm trăm lẻ bốn đồng)

Kể từ ngày 28/9/2025, ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 26474/23MN/HĐTD ngày 02 tháng 10 năm 2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trường hợp ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên bán đấu giá đối với tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 19883/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023 và 19884/23MN/HĐBĐ ngày 03/10/2023, tài sản phát mãi bao gồm: Thửa đất số 676, tờ bản đồ số 3, diện tích 7072m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 685613, số vào sổ cấp GCN: CS01073 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 18/01/2017ông Huỳnh Văn Tuấn E; Thửa đất số 680, tờ bản đồ số 3 diện tích 6624m², đất tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trănglà ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 685793, số vào sổ cấp GCN: CS01072 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 18/01/2017cho ông Huỳnh Văn Tuấn E; Đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 39, diện tích 10017,9m² đất tọa lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà VinhGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 054480, số vào sổ cấp GCN: CH01106 do UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp ngày 31/10/2012 để thừa kế cho ông Huỳnh Văn T1 Em ngày 28/3/2020, không phát mãi đối với phần diện tích đất có phần mộ ký hiệu (B1) diện tích 33,1m² và phần (B) diện tích 121,9m² (có sơ đồ kèm theo).

Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-BPKCTT ngày 11 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12-Vĩnh Long trong quá trình giải quyết vụ án bị hủy bỏ.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 79.445.312 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H 36.158.237 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0008905

ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12-tỉnh Vĩnh Long.

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 27.721.722 đồng. Thi hành án dân sự tỉnh V thu lại của ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 số tiền 27.721.722 đồng để giao trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H.

5. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND Khu vực 12-Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS Khu vực 12;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thành Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12-VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 32/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12-VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị Kim P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng H tổng số tiền gốc và lãi còn nợ tính đến ngày 27/9/2025 là 2.372.265.632 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger