|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 315/2025/HS-ST Ngày 04-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Bằng;
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Mạnh Hùng – Giáo viên nghỉ hưu;
- Ông Nguyễn Thanh Hải – Cán bộ hưu trí;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Chính Hướng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Thuý - Kiểm sát viên;
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 256/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2025/QĐXXST-HS ngày 07/11/2025 đối với các bị cáo:
-
Ngô Văn Đức D, sinh ngày 19/07/2007 tại Hải Phòng, khi phạm tội 17 tuổi 09 tháng 19 ngày; căn cước công dân số: 031207014740; nơi thường trú: Số A, phường H, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú hiện tại: Tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Đức M và bà Ngô Xuân T, gia đình có 02 con, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 14/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày 14/01/2025. Không coi là án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự;
Bị bắt tạm giam từ ngày 27/6/2025 tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H; có mặt tại phiên toà.
- Phan Sơn L, sinh ngày 10/7/2006 tại Đồng Nai; căn cước công dân số: 030206005121; nơi thường trú: Tổ G Ấp L, phường T, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú hiện tại: Thôn P, xã K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H và bà Đồng Thị T1, gia đình có hai con, bị cáo là con lớn; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 09/5/2025 đến ngày 16/5/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H; có mặt tại phiên toà.
-
Phạm Bình A, sinh ngày 18/11/2006 tại Hải Phòng; căn cước công dân số 031206004184; nơi thường trú: Tổ dân phố N, phường H, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú hiện tại: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 (đã chết) và bà Bình Thị H2, bị cáo là con một trong gia đình; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- - Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, đến ngày 01/10/2024 chấp hành xong hình phạt tù. Không coi là án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự;
- - Bản án số 123/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 33 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, thời hạn tính từ ngày 08/5/2025;
Bị bắt tạm giam từ ngày 27/6/2025 tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H; có mặt tại phiên toà.
-
Mai Đình P, sinh ngày 29/7/2006 tại Hải Phòng; căn cước công dân số: 031206005951; nơi cư trú: Số D đường D, tổ dân phố số B, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đình Đ và bà Ngô Thị C, gia đình có hai con, bị cáo là con lớn; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày 17/01/2024. Không coi là án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự;
Bị tạm giữ từ ngày 09/5/2025 đến ngày 16/5/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H; có mặt tại phiên toà.
- Lê Quốc T2, sinh ngày 16/12/2007 tại Hải Phòng, khi phạm tội là 17 tuổi 4 tháng 22 ngày; căn cước công dân số: 031207006940; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc Đ1 và bà Vũ Thị T3, gia đình có ba con, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H trong vụ án khác; có mặt tại phiên toà.
- Trần Thế A1, sinh ngày 16/7/2006 tại Hải Phòng; căn cước công dân số: 030206010092;nơi thường trú: Thôn L, xã N, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú hiện tại: Tổ dân phố T, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T4 và Nguyễn Thị D1, gia đình có hai con, bị cáo là con lớn; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/9/2025 đến ngày 28/9/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H; có mặt tại phiên toà.
- Lê Văn T5, sinh ngày 06/11/2007 tại Hải Phòng, khi phạm tội 17 tuổi 06 tháng 02 ngày; căn cước công dân số: 031207009190; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T6 và bà Trần Thị T7, gia đình có hai con, bị cáo là con lớn; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 01/7/2025 đến ngày 10/7/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H; có mặt tại phiên toà.
- Hoàng Thị Thảo M1, sinh ngày: 08/10/2007 tại Hải Phòng, khi phạm tội là khi phạm tội 17 tuổi 07 tháng 00 ngày; căn cước công dân số: 031307013105; nơi cư trú: Thôn P, xã A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị P1, gia đình có bốn con, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 27/6/2025 tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H; có mặt tại phiên toà.
- Phạm Thị H3, sinh ngày: 27/02/2005 tại Hải Phòng; căn cước công dân số: 031305005462; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C1 và bà Lưu Thị T8, gia đình có ba con, bị cáo là con lớn; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 09/5/2025 đến ngày 16/5/2025 chuyển tạm giam đến ngày 22/7/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt tại phiên toà.
- Dương Quang K, sinh ngày: 27/10/2007 tại Hải Phòng, khi phạm tội là 17 tuổi 06 tháng 11 ngày; căn cước công dân số: 031207012842; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quang P2 (đã chết) và bà Đỗ Thị T9, gia đình có hai con, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 09/5/2025 đến ngày 16/5/2025 chuyển tạm giam đến ngày 22/7/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt tại phiên toà.
- Phạm Quốc H4, sinh ngày: 14/4/2009 tại Hải Phòng, khi phạm tội là 16 tuổi 24 ngày; căn cước công dân số: 031209007463; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân T10 và bà Thọ Thị M2, gia đình có ba con, bị cáo là con thứ ba; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 09/5/2025 đến ngày 16/5/2025 chuyển tạm giam đến ngày 22/7/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
- + Anh Lê Quốc Đ1 và chị Vũ Thị T3; địa chỉ: tổ dân phố B, phường A, thành phố Hải Phòng; là đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Quốc T2 (Vắng mặt, có mặt bà nội T2 là bà Đặng Thị P3);
- + Anh Lê Văn T6 và chị Trần Thị T7; địa chỉ: tổ dân phố B, phường A, thành phố Hải Phòng; là đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Văn T5 (Có mặt chị Trần Thị T7);
- + Anh Phạm Xuân T10 và chị Thọ Thị M2; địa chỉ: tổ dân phố L, phường H, thành phố Hải Phòng; là đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc H4 (Có mặt anh Phạm Xuân T10);
- Người bào chữa cho các bị cáo:
- + Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn Đức D, Dương Quang K, Phạm Quốc H4 là bà Nguyễn Thị Thu T11 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 01 thành phố Hải Phòng;
- + Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Thảo M1, Lê Văn T5, Lê Quốc T2 là bà Trần Thị T12 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 01 thành phố Hải Phòng;
- Bị hại (đối với hành vi Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bị cáo Ngô Văn Đức D): Anh Lê Văn T13, sinh năm 1993 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- - Ông Lê Văn Đ2, sinh năm 1962;
- - Bà Đặng Thị L1, sinh năm 1960;
- - Chị Nguyễn Thị Kim H5, sinh năm 1991;
- - Cháu Lê Yến N, sinh ngày 18/02/2022;
Đều có địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị Bích M3, sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Cháu Bùi Minh D2, sinh ngày 27/01/2010; người đại diện hợp pháp là anh Bùi Đình T14 và chị Vũ Thị T15; vắng mặt.
- + Cháu Nguyễn Duy T16, sinh ngày 08/01/2011; người đại diện hợp pháp là chị Nguyễn Thị T17; vắng mặt.
- + Cháu Bùi Quang T18, sinh ngày 10/10/2010; người đại diện hợp pháp là chị Đặng Thị D3; vắng mặt.
- Người tham gia phiên toà khác:
- + Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường H, thành phố Hải Phòng: Bà Trần Hải B1 – Bí thư Đoàn; có mặt.
- + Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường A, thành phố Hải Phòng: Ông Hoài Sỹ N1 – Bí thư Đoàn; vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 07/5/2025, Ngô Văn Đức D, Dương Quang K, Phạm Quốc H4 và Bùi Minh D2 (gọi là nhóm Đức D) rủ nhau điều khiển xe mô tô đi trên các tuyến đường để khiêu khích, rượt đuổi nhau với các nhóm thanh niên khác. Các bị cáo đi trên 03 xe trong đó: Đức D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, không gắn biển kiểm soát, mang theo 01 bình xịt hơi cay; K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không gắn biển kiểm soát, mang theo 01 bình xịt hơi cay chở D2 ngồi sau cầm 01 súng ná bắn đạn kim loại; H4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen, không gắn biển kiểm soát, không mang theo hung khí. Cả nhóm thống nhất nếu bị đuổi thì xe D và xe H4 sẽ chạy trước còn xe K chở D2 sẽ đi sau dùng bình xịt hơi cay và súng ná để ngăn cản các nhóm khác. Nhóm Đức D xuất phát từ khu vực gần cây xăng A2 thuộc tổ dân phố L, phường A, quận H (nay là phường H), thành phố Hải Phòng đi theo các tuyến đường Q, Hùng V và tỉnh lộ 351 theo hướng đi trung tâm phường L, quận A (nay là phường A), thành phố Hải Phòng.
Cùng thời điểm này, Phan Sơn L, Phạm Thị H3 và Hoàng Thị Thảo M1 (gọi là nhóm S) cũng đang đi chơi cùng nhau. Do trước đó đã bị các nhóm thanh niên khác xịt hơi cay, L và M1 chuẩn bị mỗi người 01 thanh kiếm bằng kim loại, có một lưỡi sắc dài khoảng 61cm, phần lưỡi dài 43cm, bản kiếm chỗ rộng nhất là 4,2cm, mũi nhọn cất vào dưới yên xe của L với mục đích nếu bị xịt hơi cay sẽ sử dụng để đuổi đánh nhau. L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, không gắn biển kiểm soát chở H3 ngồi giữa, M1 ngồi sau đi theo đường Máng nước đến khu vực trung tâm phường A. Trên đường đi nhóm L nhập đoàn cùng với nhóm của Lê Văn T5, Trần Thế A1, Lê Quốc T2, Nguyễn Duy T16, Bùi Quang T18 và 01 nhóm gồm Đức D4 (nhà ở K) và 02 thanh niên không quen biết (chưa xác định được lai lịch) đi trên 01 xe mô tô. Sau khi nhập đoàn, nhóm Sơn L gồm 11 người đi trên 04 xe mô tô rủ nhau đi theo tỉnh lộ 351 hướng về ngã tư L tìm đánh các nhóm thanh niên xịt hơi cay. Các xe được bố trí cụ thể: L chở H3, M1 dẫn đầu đoàn trên xe Honda Airblade màu đen không gắn biển kiểm soát; Thế A1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xám xanh (chưa xác định được BKS) chở T5; T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu trắng đen (chưa xác định được BKS) chở T16, T18; Đức D4 chở 02 nam thanh niên trên xe Airblade.
Khi đi đến khu vực gần ngã 3 giao cắt giữa tỉnh lộ 351 và đường B, gặp nhóm Sơn L đi ngược chiều, nhóm Đức D lập tức nháy đèn pha, lượn xe qua đầu xe L rồi bấm còi và có những lời lẽ khiêu khích nhóm Sơn L đuổi theo. D4 ngồi sau K cầm bình xịt hơi cay xịt về phía L và cầm súng ná hướng về phía nhóm Sơn L để doạ sau đó cùng nhau bỏ chạy. Bị xịt hơi cay, L điều khiển xe quay lại, dừng xe vào ven đường. Lúc này các xe phía sau L cũng vừa đi tới, T5 và Thế A1 hỏi L: “Có bị bắn hay xịt hơi cay không”, L trả lời: “Có, là nó đấy, là bọn hôm trước xịt hơi cay mình đấy, đuổi trước đi”. Thấy vậy, Thế A1 chở T5 đuổi theo nhóm Đức D, xe T2 và xe Đức D4 cũng đuổi theo. L mở yên xe lấy ra 02 thanh kiếm rồi yêu cầu M1 điều khiển xe, H3 ngồi giữa, L ngồi sau cùng cầm kiếm cùng cả nhóm đuổi nhóm Đức D. Trên đường đi, L đưa cho T5 01 thanh kiếm để sử dụng.
Quá trình rượt đuổi hai nhóm điều khiển xe với tốc độ từ 80 đến 100km/h, lạng lách, đánh võng từ tỉnh lộ 351 qua khu vực trung tâm phường A và đường N. K và D4 thay nhau liên tục xịt hơi cay về phía sau để ngăn cản. Khi đi qua quán nước “B” ở khu vực trung tâm phường A, T2 yêu cầu T18 xuống xe để T2 và T16 tiếp tục đuổi. Cùng thời điểm này Phạm Bình A và Mai Đình P đang ở gần đó thấy nhóm Sơn L có người quen nên Bình A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu trắng đen (chưa xác định được BKS) chở P nhập đoàn đuổi cùng. Cả nhóm rượt đuổi đến khu vực gần ngã tư giao cắt giữa tỉnh lộ 351 và đường N, thuộc phường A, quận A (nay là phường A) thành phố Hải Phòng, thì M1 bị xịt hơi cay nên dừng xe lại, L yêu cầu M1 và H3 xuống xe để Lâm đuổi một mình cho nhanh. Đúng lúc này, T2 cũng vừa đến nơi nên đã chở T16, M1 và H3 về quán nước “Bà già” để M1 và H3 xuống xe vào quán nước ngồi đợi còn T2 tiếp tục điều khiển xe chở T16 quay lại để đuổi theo nhóm Đức D nhưng không kịp nên đã quay về quán nước. Sau khi để M1 và H3 xuống xe, L cùng với xe của Thế A1 (chở T5), xe của Bình A (chở P) và xe của Đức D4 (chở 02 thanh niên) đuổi theo nhóm Đức D trên tuyến đường N và Quốc lộ A theo hướng đi tỉnh Quảng Ninh. Quá trình rượt đuổi, L đưa 01 thanh kiếm còn lại cho thanh niên lạ mặt đi cùng xe Đ. Các thành viên trong nhóm Sơn L điều khiển xe với tốc độ cao thay nhau áp sát 03 xe của nhóm Đức D với khoảng cách lúc gần nhất khoảng 05m, T5 đứng sau xe do Thế A1 điều khiển cầm kiếm hướng mũi nhọn về phía trước hò hét, chửi bới. Tuy nhiên do liên tục bị xịt hơi cay và bị D4 chĩa súng ná về phía sau doạ bắn nên nhóm Sơn L không đuổi kịp nhóm Đức D. Xe của Bình A chở P đuổi đến khu vực gần chùa C3 trên Quốc lộ A thì Bình A cay mắt nên dừng xe lại để P điều khiển xe đưa về quán nước “Bà già”.
Đến khoảng 01 giờ 25 phút ngày 08/5/2025, khi bỏ chạy với tốc độ cao đến khu vực K Quốc lộ A đoạn phía trước Công ty Cổ phần C4, do mải ngoái đầu lại phía sau để xem nhóm Sơn L nên D đã không quan sát đường đi, để xe mô tô của mình đâm vào càng giảm sóc phía sau bên phải xe mô tô của anh Lê Văn T13 điều khiển đang đi cùng chiều phía trước làm cả hai xe và người đổ ngã ra đường. Một lát sau, xe do K, H4, L, Thế A1 điều khiển lần lượt đi qua hiện trường và thấy xe của Đức D bị tai nạn nên không rượt đuổi nữa mà bỏ về, T5 cũng trả lại kiếm cho L. Thấy anh T13 bị thương, Đức D mang xe rời khỏi hiện trường và thông báo cho gia đình đến hiện trường đưa người bị nạn đi cấp cứu. Anh T13 được người dân đưa đi cấp cứu và tử vong sau đó.
Khi biết được thông tin cơ quan chức năng đang điều tra nguyên nhân vụ tai nạn, Đức D đã mang xe đến hiện trường mô tả lại tình trạng, vị trí của xe tại thời điểm xảy ra sự việc để phục vụ hoạt động khám nghiệm. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Trên phần đường bên phải theo hướng từ Quán T20 có xe mô tô kiểu dáng Honda CUB không gắn biển kiểm soát của anh Lê Văn T13 đổ nghiêng trái, trục bánh trước cách cột mốc lộ giới “QL 10 Km23” 22,7m; Xe mô tô của Đức D đổ nghiêng phải, trục bánh sau xe này cách trục bánh sau xe của anh T13 2,1m về hướng đi cầu Kiền. Trên mặt đường phát hiện: 01 đám cày xước không liên tục dài 24,4m nằm hoàn toàn trên phần đường bên phải. Điểm đầu đám cày xước cách cột mốc “QL 10 Km23” 9,3m, điểm cuối đám cày xước tương ứng với trục bánh sau xe mô tô của Đức D; 01 đám tạp chất màu nâu đỏ dạng chảy đọng và 01 đôi dép màu nâu trong diện (5x2)m, tâm diện cách cột mốc “QL 10 Km23” 11,6m, cách mép đường bên phải 2,5m; Cách tâm đám tạp chất 4,1m về phía đông bắc có 01 chiếc dép bàn chân phải màu đen, trên quai dép có chữ “KARL” nằm trên mép đường phải; 01 vết cày xước mặt đường không liên tục dài 7,5m, điểm đầu cách chiếc dép nêu trên 01m, cách mép đường bên phải 0,23m, điểm cuối tương ứng với vị trí phía dưới xe của anh T13.
Tại Kết luận giám định số 1566/KL-KTHS ngày 11/6/2025 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Dấu vết cong gập, móp méo biến dạng kim loại theo chiều từ ngoài vào tâm ở vành bánh trước và dấu vết trượt xước bám dính tạp chất màu nâu đỏ (dạng gỉ sét) ở cạnh ngoài bên trái vành bánh trước xe mô tô do Ngô Văn Đức D điều khiển phù hợp với dấu vết cong gập kim loại, trượt xước mất gỉ sét (màu nâu đỏ) theo chiều từ sau về trước ở đầu phía sau khung ngang phía dưới bên phải xe mô tô do anh Lê Văn T13 điều khiển; Không đủ cơ sở xác định các xe này còn va chạm với phương tiện khác hay không.
Tại Biên bản khám nghiệm tử thi, bản Kết luận giám định tử thi số 1165/KL-KTHS ngày 14/5/2025 của Phòng K1 Công an thành phố H và Kết luận giám định hoá pháp số 1250/PY-XNĐH ngày 18/6/2025 của V1, Cục Q kết luận: Anh Lê Văn T13 chết do chấn thương sọ não, trong máu có chất Amphetamin, M4, không có E và các chất ma tuý khác.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 325/2025/KLTTCT-TTPY ngày 25/6/2025 của Trung tâm P4 kết luận: Ngô Văn Đức D bị chấn động não, xây xước da gò má phải, sẹo do vết thương ở cằm phải, gãy thành xoang hàm phải, xây xước da cổ tay phải, xây xước da gối phải, sưng nề phần mềm bàn chân; tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 23%, âm tính với các chất ma tuý và không có cồn trong máu.
Trong các ngày 08/5/2025, 01/7/2025 và 24/9/2025 Phạm Quốc H4, Dương Quang K, Mai Đình P, Phạm Thị H3, Phan Sơn L, Lê Văn T5 và Trần Thế A1 lần lượt đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú. Ngày 27/6/2025 Ngô Văn Đức D và Hoàng Thị Thảo M1 bị bắt tạm giam. Phạm Bình A và Lê Quốc T2 đã bị tạm giam trong vụ án khác.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành thu giữ 01 súng ná (nỏ), 01 thanh kiếm, 01 vỏ bao kiếm bằng gỗ, 02 bình xịt hơi cay, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade (không gắn BKS, số khung RLHJF6336MZ621739, số máy JF94E-0258502 chủ sở hữu hợp pháp là Phan Sơn L); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave (thu của D không gắn BKS, số khung RLHJA3930PY609150 số máy JA70E-0037836, tên chủ sở hữu: Bà Phạm Thị Bích M3), 01 xe máy kiểu dáng Honda CUB (không gắn BKS, số máy 150FMG*02502603*, các ký tự còn lại của số khung có thể đọc được là HA02-1831...7 do anh T13 quản lý, điều khiển), 01 lò xo kim loại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; 01 đôi dép màu nâu (của anh Lê Văn T13); 01 mảnh vỡ của yếm xe D, 01 chiếc dép bàn chân bên phải màu đen, trên quai dép có chữ “KARL”; 01 quần vải màu đen, 01 áo vải có mũ liền áo màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 đều đã qua sử dụng (do D giao nộp). Số vật chứng trên được chuyển Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng quản lý. Ngoài ra, ngày 08/5/2025 đại diện Công ty TNHH T21 giao nộp 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh ghi nhận một phần nội dung vụ tai nạn giao thông tại khu vực phía trước Công ty Cổ phần C4 vào rạng sáng ngày 08/5/2025 được lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại Kết luận giám định số 2775/KL-KTHS ngày 01/10/2025 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Khẩu súng ná (nỏ) do K giao nộp thuộc Phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C5.
Về dân sự: Gia đình bị can Ngô Văn Đức D đã bồi thường cho gia đình anh Lê Văn T13 số tiền 100.000.000 đồng. Gia đình anh T13 không có đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với D.
Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSHP-P2 ngày 20/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Ngô Văn Đức D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phan Sơn L, Phạm Bình A, Mai Đình P, Lê Quốc T2, Trần Thế A1, Lê Văn T5, Hoàng Thị Thảo M1, Phạm Thị H3, Dương Quang K và Phạm Quốc H4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã thể hiện, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do không kiềm chế được bản thân nên đã cố ý vi phạm. Các bị cáo rất ăn năn, hối hận với hành vi của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất để có cơ hội sửa chữa, cải tạo bản thân thành người tốt.
Đại diện hợp pháp, người bào chữa của các bị cáo nhất trí với lời khai, lời trình bày của các bị cáo tại phiên toà cũng như bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng. Bên cạnh việc đồng ý với điều khoản truy tố, xét xử cũng như các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng với các bị cáo, người bào chữa của các bị cáo cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm hoàn cảnh gia đình, cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở lại làm người công dân có ích cho xã hội. Người bào chữa cho các bị cáo M1, T5, K, H4 đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc độ tuổi, vai trò phạm tội và tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, xem xét xử phạt hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường H, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc mức hình phạt với các bị cáo phạm tội khi chưa thành niên, bên cạnh tác dụng trừng trị, răn đe cũng cần có sự khoan hồng đảm bảo nguyên tắc xét xử đối với người chưa thành niên nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Hải Phòng phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm đã nêu trong quyết định truy tố về tội danh, khung hình phạt truy tố đối với các bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Văn Đức D và tội “Gây rối trật tự công cộng” điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo. Trên cơ sở phân tích hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện, hậu quả của vụ án, vai trò, độ tuổi của từng bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị xử phạt:
- - Ngô Văn Đức D từ 27 đến 33 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, từ 21 đến 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt 21 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 14/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng. Tổng hợp thành hình phạt chung là từ 5 năm 9 tháng tù đến 6 năm 9 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 27/6/2025.
- - Phan Sơn L từ 03 đến 04 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 09/5/2025.
- - Phạm Bình A từ 33 đến 39 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp với hình phạt 33 tháng tù giam tại Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng, bị cáo phải chịu hình phạt từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 08/5/2025.
- - Mai Đình P từ 33 đến 39 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 18 tháng tù, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, được trừ 47 ngày bị tạm giữ, tạm giam (từ 12/7/2023 đến 28/8/2023) vào thời gian chấp hành hình phạt, bị cáo còn chưa chấp hành 16 tháng 13 ngày; Tổng hợp thành hình phạt chung là: 04 năm 01 tháng 13 ngày đến 04 năm 7 tháng 13 ngày, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 09/5/2025.
- - Lê Quốc T2 từ 21 đến 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tính từ khi thi hành án.
- - Trần Thế A1 từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 25/9/2025.
- - Lê Văn T5 từ 21 đến 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 01/7/2025.
- - Hoàng Thị Thảo M1 từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
- - Phạm Thị H3 từ 21 đến 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 42 đến 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh đối với bị cáo.
- - Dương Quang K từ 18-21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh đối với bị cáo.
- - Phạm Quốc H4 từ 12 đến 14 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh đối với bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về tội danh và khung hình phạt áp dụng:
- Tại phiên toà, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng 23 giờ 00 phút ngày 07/5/2025 đến rạng sáng ngày 08/5/2025, trên các tuyến đường từ tỉnh lộ 351 đến Nguyễn Trường T19 và quốc lộ A thuộc địa phận các phường H, A, thành phố Hải Phòng, nhóm Đức D gồm Ngô Văn Đức D, Dương Quang K, Phạm Quốc H4 và Bùi Minh D2 đã cùng với nhóm Sơn L gồm Phan Sơn L, Hoàng Thị Thảo M1, Phạm Thị H3, Trần Thế A1, Lê Văn T5, Lê Quốc T2, Nguyễn Duy T16, Bùi Quang T18, Phạm Bình A, Mai Đình P, Đức D4 và 02 thanh niên (chưa rõ thông tin) truy đuổi nhau với tốc độ cao từ khoảng 80 đến 100km/h bằng xe mô tô không gắn biển kiểm sát, hò hét, rú ga và bấm còi gây mất trật tự công cộng. Trong đó, nhóm Đức D sử dụng phương tiện là 03 xe mô tô nháy đèn, bóp còi khiêu khích, đồng thời xịt hơi cay và chĩa súng ná về phía nhóm S. Khi bị khiêu khích, nhóm S đuổi theo trên 04 xe mô tô, trong đó L dùng 02 thanh kiếm cất trong cốp, đưa cho T5 01 thanh còn mình sử dụng 01 thanh để rượt đuổi. Quá trình truy đuổi, nhóm của Sơn L thay nhau áp sát xe của nhóm Đức D, 02 xe do Thế A1 và Bình A điều khiển đi sang làn ngược chiều để chặn đường, T5 ngồi sau xe Thế A1 cầm kiếm đứng lên hò hét, chửi bới. Trong khi đó, nhóm Đức D liên tục xịt hơi cay, chĩa súng ná về phía sau dọa bắn. Do bị xịt hơi cay và không đuổi kịp, Hoàng Thị Thảo M1, Phạm Thị H3, Bùi Quang T18, Lê Quốc T2, Nguyễn Duy T16, Phạm Bình A cùng Mai Đình P đã lần lượt quay về, những xe còn lại tiếp tục đuổi theo.
- Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tụ tập đông người, mang theo bình xịt hơi cay, kiếm, điều khiển xe mô tô rượt đuổi nhau với tốc độ cao trên nhiều tuyến đường đã gây huyên náo, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Bị rượt đuổi, Ngô Văn Đức D bỏ chạy, đến khoảng 01 giờ 25 phút ngày 08/5/2025, khi đi đến khu vực Km23 Quốc lộ A, thời điểm này mặc dù không còn bị truy đuổi áp sát, D vẫn vừa điều khiển xe vừa quay mặt về phía sau để quan sát tình hình dẫn đến xe của D đâm vào càng giảm sóc phía sau bên phải xe mô tô do anh Lê Văn T13 đang điều khiển đi phía trước cùng chiều làm 02 xe đổ, anh T13 và D đều bị ngã xuống đường. Hậu quả anh T13 bị tử vong do chấn thương sọ não, bản thân D bị nhiều thương tích.
- Có căn cứ xác định, D điều khiển xe mô tô khi chưa có Giấy phép lái xe theo quy định, không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước khi tham gia giao thông, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông làm anh Lê Văn T13 tử vong nên bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố D về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.
-
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
- Đối với tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, D là người thực hiện hành vi phạm tội duy nhất.
- Đối với tội “Gây rối trật tự công cộng”, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong vụ án này, Hội đồng xét xử xác định D là người cùng thống nhất với các bị cáo khác về việc đi lượn đường xịt hơi cay, chuẩn bị bình xịt hơi cay và súng ná, điều khiển xe nháy đèn pha, bấm còi khiêu khích; L là người cùng thống nhất với H3 và M1 về việc chuẩn bị kiếm, tìm nhóm xịt hơi cay trả thù, trực tiếp cầm kiếm cũng như đưa cho T5 01 thanh kiếm để truy đuổi nhóm D và tham gia truy đuổi đến cùng. Vì vậy, D và L có vai trò cao hơn các bị cáo khác.
- Các bị cáo Thế A1 và T5 tiếp nhận ý chí của L, điều khiển xe mô tô lạng lách, đuổi nhau, đi ngược chiều với tốc độ cao và dùng kiếm, hò hét, truy đuổi có vai trò là người thực hành tích cực.
- Các bị cáo M1 và K tiếp nhận ý chí, M1 chuẩn bị kiếm, K chuẩn bị bình xịt hơi cay. M1 trực tiếp lái xe, khi bị xịt hơi cay thì dừng lại không tiếp tục truy đuổi. K lái xe chở bị cáo D4, tham gia đuổi nhau, bấm còi, xịt hơi cay. Các bị cáo M1, K có vai trò là người thực hành.
- Các bị cáo H4, H3, T2, Bình A và P có tham gia hò hét truy đuổi nhưng do bị xịt hơi cay, không theo kịp nên đã dừng lại, không tiếp tục truy đuổi đến cùng, các bị cáo này có vai trò đồng phạm thấp nhất trong vụ án.
-
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- Trong vụ án này, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, được hưởng tình tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Các bị cáo Phạm Quốc H4, Dương Quang K, Mai Đình P, Phạm Thị H3, Phan Sơn L, Lê Văn T5, Trần Thế A1 sau khi gây án đến Cơ quan điều tra đầu thú, bị cáo L có ông nội tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bị cáo M1 có ông nội tham gia quân ngũ, Hội đồng xét xử xem xét, quyết định cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Đối với tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, bị cáo Ngô Văn Đức D thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Lê Văn T13, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Trong vụ án này, các bị cáo Ngô Văn Đức D, Phan Sơn L, Phạm Bình A, Mai Đình P, Lê Quốc T2 đã có hành vi vi phạm pháp luật, đã bị xét xử hoặc đang trong thời gian chuẩn bị xét xử, mặc dù không bị coi là tiền án nhưng cũng cần xem xét, đánh giá khi quyết định hình phạt để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
- Các bị cáo Ngô Văn Đức D, Lê Quốc T2, Lê Văn T5, Hoàng Thị Thảo M1, Dương Quang K và Phạm Quốc H4 khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên, những quy định của Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi, chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
-
Trên cơ sở xem xét đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận định trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như sau:
- Bị cáo Ngô Văn Đức D phạm nhiều tội, có vai trò cao nhất trong vụ án, bản thân đang chấp hành thời gian thử thách của hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, không chịu tu dưỡng lại tiếp tục phạm tội mới nên cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo ý nghĩa trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cũng cần phải áp dụng các quy định tại Điều 12, 119, 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên quyết định mức hình phạt tù phù hợp và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách nên phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án này theo quy định tại Điều 56 và 65 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
- Bị cáo Phan Sơn L là người trên 18 tuổi, phạm tội với vai trò cao, hiện cũng đang bị truy tố, xét xử trong một vụ án khác nên cần phải buộc bị cáo chịu hình phạt tù tương xứng với tính chất hành vi, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, sớm thành người lương thiện, công dân có ích cho xã hội.
- Các bị cáo Phạm Bình A, Mai Đình P đều là người trên 18 tuổi, bản thân các bị cáo trước đó đã phạm tội và bị xét xử. Tuy nhiên, trong vụ án, các bị cáo tham gia sau phạm tội với vai trò thấp nên chỉ cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù ở mức thấp của khung phạt cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt của các bản án trước đó với hình phạt của bản án này theo quy định của Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Lê Quốc T2 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, hiện đang bị truy tố, xét xử trong vụ án khác. Mặc dù trong vụ án này, bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu nhưng để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo và sự nghiêm minh của pháp luật.
- Các bị cáo Trần Thế A1, Lê Văn T5 đều có vai trò, hành vi phạm tội tích cực. Với tính chất hành vi cùng các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo phải chịu hình phạt tù để giáo dục các bị cáo và đảm bảo tác dụng phòng ngừa chung.
- Bị cáo Phạm Thị H3 phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm thứ yếu nên có có căn cứ cho bị cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định Điều 65 Bộ luật Hình sự, để thực hiện đúng nguyên tắc xử lý tội phạm và thể hiện sự khoan hồng nhân đạo của pháp luật, cho bị cáo có điều kiện cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Các bị cáo Hoàng Thị Thảo M1, Dương Quang K và Phạm Quốc H4 đều có nhân thân tốt, phạm tội với vai trò thấp, là người chưa thành niên phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên toà thể hiện rõ sự ăn năn, hối lỗi về hành vi phạm tội đã thực hiện, đều có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quyết định hình phạt tù phù hợp đối với từng bị cáo và cho hưởng án treo, đảm bảo chính sách khoan hồng của pháp luật, giúp các bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo M1 đang bị tạm giam, bị xử phạt tù nhưng được Tòa án cho hưởng án treo nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
- Về trách nhiệm dân sự (đối với bị hại Lê Văn T13): quá trình điều tra và trước khi xét xử, bị cáo D cùng gia đình đã thực hiện việc bồi thường, đại diện bị hại không yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
-
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các công cụ phạm tội, đồ vật không có giá trị, không sử dụng được gồm: 01 súng ná (nỏ), 01 thanh kiếm, 01 vỏ bao kiếm bằng gỗ, 02 bình xịt hơi cay; 01 lò xo kim loại; 01 mảnh vỡ của yếm xe D, 01 chiếc dép bàn chân bên phải màu đen, trên quai dép có chữ “KARL”; 01 quần vải màu đen, 01 áo vải có mũ liền áo màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và 01 đôi dép màu nâu (của anh Lê Văn T13).
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 đã qua sử dụng cho Ngô Văn Đức D; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade (không gắn BKS, số khung RLHJF6336MZ621739, số máy JF94E-0258502) cho Phan Sơn L; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave (thu của D không gắn BKS, số khung RLHJA3930PY609150 số máy JA70E-0037836) cho bà Phạm Thị Bích M3.
- Đối với 01 xe máy kiểu dáng Honda CUB (không gắn BKS, số máy 150FMG*02502603*, các ký tự còn lại của số khung có thể đọc được là HA02-1831...7 là xe do anh Lê Văn T13 quản lý sử dụng, chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp là ai nên cần chuyển lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H xem xét xử lý theo quy định.
- Trong vụ án này, Bùi Minh D2, Bùi Quang T18 và Nguyễn Duy T16 có hành vi đồng phạm tội Gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên D2, T18, T16 đều có độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Ngày 04/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H gửi văn bản đến UBND phường H và phường A để xử lý hành chính là phù hợp. Đối với Đức D4 và 02 thanh niên tham gia cùng nhóm Sơn L, L khai đưa cho nhóm này 01 thanh kiếm, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố H ra Quyết định số 20731D/QĐ-CSHS-Đ5 ngày 04/10/2025 tách hành vi và tài liệu liên quan, tiếp tục làm rõ xử lý sau.
- Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với bị cáo Lê Quốc T2 và Phạm Quốc H4 tại thời điểm xét xử chưa đủ 18 tuổi nên người đại diện hợp pháp của các bị cáo thực hiện nộp thay tiền án phí cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 17, điểm a khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo;
Áp dụng thêm điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Khoản 5 Điều 12, Điều 121, 122 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Ngô Văn Đức D;
Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn Đức D, Phạm Quốc H4, Dương Quang K, Mai Đình P, Phạm Thị H3, Phan Sơn L, Lê Văn T5, Trần Thế A1 và Hoàng Thị Thảo M1;
Áp dụng thêm Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn Đức D, Phan Sơn L, Phạm Bình A, Mai Đình P, Lê Quốc T2, Trần Thế A1 và Lê Văn T5;
Áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với các bị cáo Phạm Thị H3, Hoàng Thị Thảo M1, Dương Quang K và Phạm Quốc H4;
Áp dụng thêm Điều 119, 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Ngô Văn Đức D, Lê Quốc T2 và Lê Văn T5;
Áp dụng thêm Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn Đức D, Phạm Bình A và Mai Đình P;
Áp dụng thêm khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn Đức D và Mai Đình P;
Áp dụng thêm Điều 119, 124 và 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Hoàng Thị Thảo M1, Dương Quang K và Phạm Quốc H4;
Áp dụng thêm Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị Thảo M1; Áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị H3;
- Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Đức D phạm các tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 21 (hai mươi mốt) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 14/01/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành chung của cả hai bản án là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giam 27/6/2025.
-
Tuyên bố các bị cáo Phan Sơn L, Phạm Bình A, Mai Đình P, Lê Quốc T2, Trần Thế A1, Lê Văn T5, Hoàng Thị Thảo M1, Phạm Thị H3, Dương Quang K và Phạm Quốc H4 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt:
- Phan Sơn L 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2025.
- Trần Thế A1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2025.
- Phạm Bình A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 33 (ba mươi ba) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2025.
- Mai Đình P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 18 (mười tám) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, được trừ 47 ngày tạm giam, bị cáo còn phải chịu 03 (ba) năm 07 (bảy) tháng 13 (mười ba) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2025.
- Lê Quốc T2 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày đi thi hành án.
- Lê Văn T5 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2025.
- Phạm Thị H3 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh đối với bị cáo.
- Hoàng Thị Thảo M1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo, trả tự do cho bị cáo tại phiên toà.
- Dương Quang K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với bị cáo.
- Phạm Quốc H4 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với bị cáo.
- Giao bị cáo Phạm Thị H3 cho UBND phường A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao bị cáo Hoàng Thị Thảo M1 cho UBND xã A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao các bị cáo Dương Quang K và Phạm Quốc H4 cho UBND phường H, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Về xử lý vật chứng:
-
Tịch thu tiêu hủy các công cụ phạm tội, đồ vật không có giá trị, không sử dụng được gồm:
- - 01 súng ná (nỏ) trên thân có 02 (hai) nấc gồm kéo dài và thu ngắn. Khi thu ngắn có chiều dài 90cm, khi kéo dài có chiều dài 121cm. Thân bằng kim loại màu đen, trên thân có chữ Trung Quốc. Phần đầu có 01 tấm kim loại hình chữ “X” kích thước (10x9,5) cm; buộc hai sợi dây dạng dây cao su trắng, mỗi sợi dài 21 cm nới với một miếng da màu đen.
- - 01 thanh kiếm dài 61cm, cán dài 18 cm quấn băng dính màu xanh, lưỡi kiếm dài 43 cm màu nâu, mũi kiếm nhọn cong. Có vỏ bao kiếm dài 50cm màu đen, in hình rồng vàng và hai chữ “C2”, “H6” ở hai đầu.
- - 01 bình xịt hơi cay màu xanh dài 15cm, đã qua sử dụng; 01 bình xịt hơi cay màu đen dài 15 cm, đã qua sử dụng; 01 lò xo kim loại dạng bộ phận giảm xóc xe mô tô; 01 đôi dép màu nâu; 01 mảnh vỡ của yếm xe D; 01 chiếc dép bàn chân bên phải màu đen, trên quai dép có chữ “KARL”; 01 quần vải màu đen; 01 áo vải có mũ liền áo màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, đã bị vỡ nát, không kiểm tra được thông tin.
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 353990108835963 cho Ngô Văn Đức D; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade (không gắn BKS, số khung RLHJF6336MZ621739, số máy JF94E-0258502 thu của Phan Sơn L) cho Phan Sơn L; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave (không gắn biển kiểm soát, số khung RLHJA3930PY609150, số máy JA70E-0037836 thu của Ngô Văn Đức D) cho bà Phạm Thị Bích M3;
-
Chuyển lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H 01 xe máy kiểu dáng Honda CUB (không gắn biển kiểm soát, số máy 150FMG02502601), các ký tự còn lại của số khung có thể đọc được là HA02-1831...7 là xe do anh Lê Văn T13 quản lý và sử dụng) xem xét xử lý theo quy định.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/11/2025 giữa Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và Công an thành phố H)
-
Tịch thu tiêu hủy các công cụ phạm tội, đồ vật không có giá trị, không sử dụng được gồm:
- Về án phí: Các bị cáo Ngô Văn Đức D, Phan Sơn L, Phạm Bình A, Mai Đình P, Lê Quốc T2, Trần Thế A1, Lê Văn T5, Hoàng Thị Thảo M1, Phạm Thị H3, Dương Quang K và Phạm Quốc H4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của các bị cáo Lê Quốc T2 và Phạm Quốc H4 có trách nhiệm nộp thay cho các bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt các bị cáo, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người đại diện hợp pháp, người bào chữa của các bị cáo Lê Quốc T2 và Phạm Quốc H4 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Bằng |
Bản án số 315/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 315/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn Đức D cùng các bị cáo khác đã có hành vi đuổi nhau bằng xe máy, xịt hơi cay, cầm kiếm trên nhiều con phố. D còn có hành vi vi phạm quy định giao thông đường bộ làm chết một người
