Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 30-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Xuân Dũng
- Ông Vàng Hu Chờ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST- HS ngày 16/12/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lù Mó G1 - Sinh năm 2001.

Nơi cư trú: Bản T, xã B, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lù Phí X (đã chết) và bà Giàng Mì G - sinh năm 1962; Bị cáo có vợ là Vàng Xè Lớ - sinh năm 2004; bị cáo có 01 con năm 2022; Gia đình bị cáo có 04 anh, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2025 cho đến cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ, ngày 21/8/2025, Lù Mó G1 đi bộ từ nhà ở trong bản T, xã B, tỉnh Lai Châu ra ngã ba thuộc bản T, xã B để tìm mua Heroine sử dụng. Tại đây, G1 gặp và mua được của một người đàn ông lạ mặt 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa 05 gói Heroine với giá 200.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được H, G1 cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ quay về nhà.

Vào hồi 16 giờ 05 phút cùng ngày, khi G1 đang đi bộ trên đường trong bản Thò Ma, xã B, tỉnh Lai Châu thì bị Tổ công tác Công an xã B phối hợp với tổ công tác Đồn Biên phòng P đang tuần tra, kiểm soát yêu cầu dừng lại kiểm tra. Tại đây, theo yêu cầu của tổ công tác, G1 đã giao nộp toàn bộ số vật chứng nói trên cho tổ công tác. Đồng thời G1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trước sự việc trên, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại Bản kết luận giỏm định số 711/KL-KTHS ngày 23/8/2025 của Phũng K - Cụng an tỉnh L kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lự Mú Giụ cú tổng khối lượng 0,74 gam. 05 Mẫu Chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5) thu giữ của Lự M Giụ gửi giỏm định là ma tỳy loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSKV4 ngày 25/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố Lù Mó Giô về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Lù Mó G1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" xử phạt bị cáo Lù Mó G1 mức án từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 08 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 06 mảnh nilon màu xanh.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Xét lời khai nhận của bị cáo Lù Mó G1 tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 16 giờ 05 phút, ngày 21/8/2025, tại bản T, xã B, tỉnh Lai Châu Lù Mó Giô đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,74 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị Tổ công tác Công an xã B phối hợp với tổ công tác Đồn Biên phòng P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lù Mó G1 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ trái phép 0,74 gam Heroine để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo là người nghiện ma túy.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Do bị cáo là người nghiện chất ma túy, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025): “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguồn thu nhập chủ yếu từ làm nương, ngoài ra không có nguồn thu nhập nào khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án:

- 0,74 gam Heroine cơ quan cảnh sát điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định không hoàn lại mẫu vật, việc gửi vật chứng đi giám định là phù hợp với quy định của pháp luật.

- 06 mảnh nilon màu xanh là vật bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Ngày 21/8/2025 cơ quan Điều tra đã test ma túy, kết quả Giô dương tính với chất ma túy. Qua xác minh, G1 không thuộc các trường hợp quy định về tội "sử dụng trái phép chất ma túy" do vậy không có căn cứ để xử lý Lù M Giô về tội "sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 256a BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

[6]. Về những vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán Heroine cho bị cáo: Do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

- Ngày 21/8/2025 cơ quan Điều tra đã test ma túy, kết quả Giô dương tính với chất ma túy. Qua xác minh, G1 không thuộc các trường hợp quy định về tội "sử dụng trái phép chất ma túy" do vậy không có căn cứ để xử lý Lù M Giô về tội "sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 256a BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

[7]. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Lù Mó G1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Lù M Giô 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 21/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 06 mảnh nilon màu xanh.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 4 - Lai Châu được lập vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 30 tháng 12 năm 2025)

  4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND Khu vực 4 - Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 4 - Lai Châu;
  • - Phân trại tạm giam Mường Tè - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HS – HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đới Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger