|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày 15/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Huỳnh Đức Trí-Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã Tây Hồ
- + Ông Bùi Kim Anh- Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực A – Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực A – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn L, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2008 tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Cẩm L, xã T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Tr và bà Nguyễn Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo:
- +Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; có mặt.
- +Ông Lê Văn Tr, sinh năm 1976; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn Cẩm L, xã T, thành phố Đà Nẵng.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thanh L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị hại: Ông Đỗ Hữu C, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn Cẩm L, xã T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn Quế A, xã Q, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Lê Văn Tr, sinh năm 1976. Ông Nguyễn Văn Thịnh, sinh năm 1971; cùng địa chỉ: Thôn Cẩm L, xã T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vì cần tiền để đi thành phố Hồ Chí Minh làm việc nên Lê Văn L đã nảy sinh ý định trộm bò của cha đẻ mình là ông Lê Văn Tr. Vào khoảng 09 giờ ngày 27-03-2025, L đi một mình đến khu vực vườn nhà ông Đỗ Hữu C thuộc Thôn Cẩm L, xã T lén lút dắt trộm một con bò của ông Đỗ Hữu C mà L nghĩ đó là bò của cha mình, đưa về cột tại rừng keo gần nhà bà Nguyễn Thị N ở Thôn Cẩm L, xã T. Sau đó, L mượn điện thoại của một người bạn tên Trương Công H, sinh năm 2007 để chụp ảnh con bò, sau đó sử dụng facebook có địa chỉ “Truong Cong Hau” để đăng trên hội nhóm “Giao L bò” với nội dung “cần bán”. Sau khi đăng tải nội dung trên thì có facebook có địa chỉ “Tinh Tinh Nguyen" của anh Nguyễn Hữu T vào tương tác, nhắn tin, trao đổi việc mua bán bò. L cho zalo của mình với địa chỉ “Bo Lê” để kết bạn với anh T có địa chỉ zalo với tên “Nguyễn Hữu T"; hai bên sử dụng zalo trao đổi mua, bán bò và anh T yêu cầu xem bò trực tiếp để trao đổi mua bán thì L hẹn sáng ngày 28-3-2025 đến xem bò, đồng thời L gửi địa chỉ định vị trên zalo cho anh T để tìm đến. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28-3-2025, anh T tìm đến nơi thì gặp L, lúc này L đóng giả là em của người nhắn tin mua bán bò với anh T, anh T hỏi bò này của ai thì L trả lời của gia đình mình, nay ba mẹ đi làm ăn xa, ở nhà có hai anh em, anh đi làm nhà máy gạch không có người giữ nên bán. Sau đó, L dẫn anh T đi xem bò, xem xong L và anh T thống nhất giá bán bò là 8.500.000 đồng. L yêu cầu anh T thanh toán qua số tài khoản 0876944132 của Ngân hàng MB bank, tên LE VAN LUU nhưng khi anh T thao tác thì không tìm thấy tài khoản trên, tiếp tục L sử dụng zalo “Bo Lê” nhắn tin yêu cầu anh T thanh toán bằng tiền mặt và đưa tiền cho em của mình, chính là L. Anh T đưa cho L đủ số tiền 8.500.000 đồng và dắt bò ra đường lớn, gọi điện thuê xe ô tô tải lên chở bò đi. Khi xe anh T thuê chở bò đi được khoảng 200 mét trên đường ĐT615 thuộc Thôn Cẩm L, xã T thì gặp ông Lê Văn Tr chặn lại và nói “Con tui nó trộm bò của ai đem đi bán rồi” và sau đó điện thoại báo Công an xã Tam L đến làm việc, lập biên bản. Còn L sau khi nhận tiền xong thì nhờ bạn chở xuống xã Tam Phước đón xe đi thành phố Hồ Chí Minh và tiêu xài hết số tiền trên.
Đến ngày 30-3-2025, Lê Văn L đến Công an xã Tam L, tỉnh Quảng Nam đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 05-5-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Phú Ninh kết luận giá trị của con bò, loại bò cái, màu lông đỏ - đen, cân nặng 320 kg, giống bò Ba B tại thời điểm bị trộm cắp là 18.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng thu giữ:
- - 01 (một) con bò, loại bò cái, màu lông đỏ - đen, cân nặng 320 kg, giống bò Babê. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Đỗ Hữu C.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số seri DX3X9S3AJCM4, màu hồng, đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng đã bị bể hỏng, lưng điện thoại bị hư hỏng, bể, phần hỏng chiếm 98% bề mặt; bên trong có chứa sim điện thoại số 0876.944.xxx.
* Vấn đề dân sự trong vụ án: Bị hại Đỗ Hữu C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Lê Văn L bồi thường thiệt hại.
Bà Nguyễn Thị N (mẹ đẻ của Lê Văn L) đã bồi thường cho Nguyễn Hữu T số tiền 8.500.000 đồng. Nguyễn Hữu T không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSKV7 ngày 17-10-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Đà Nẵng truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 100 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như cáo trạng đã truy tố, nhận thấy vi phạm của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng truy tố, cho rằng bị cáo nhận thấy sai, đã tác động mẹ của bị cáo bồi thường, nhận thức còn hạn chế. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo thống nhất với trình bày của bị cáo và người bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và người làm chứng. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 27-3-2025, bị cáo Lê Văn L đã lén lút chiếm đoạt 01 con bò của ông Đỗ Hữu C thuộc Thôn Cẩm L, xã T, thành phố Đà Nẵng trị giá 18.000.000 đồng. Đến ngày 28-3-2025, bị cáo Lê Văn L bán con bò trộm cắp nêu trên cho anh Nguyễn Hữu T với giá 8.500.000 đồng. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo L trên 16 tuổi và dưới 18 tuổi. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực A đã truy tố là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Lê Văn L có đủ khả năng nhận thức hành vi xâm phạm tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài, bị cáo bất chấp pháp luật và đạo đức xã hội, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản của con người, được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[4] Xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; ngày 16-9-2023, bị Công an huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác” bằng hình thức cảnh cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đồng ý để mẹ ruột của bị cáo là bà Nguyễn Thị N bồi thường cho bị hại và khắc phục toàn bộ thiệt hại. Sau khi phạm tội, bị cáo đầu thú. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi; việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, giáo dục ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới theo quy định tại Điều 12 Luật tư pháp người chưa thành niên. Ngày 16-9-2023, bị cáo bị Công an huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính nhưng tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi phạm tội của bị cáo ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để quản lý, giám sát cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 12 của Luật tư pháp người chưa thành niên.
[6] Về dân sự và xử lý vật chứng: Tài sản trộm cắp là 01 (một) con bò, loại bò cái, màu lông đỏ - đen, cân nặng 320 kg, giống bò Babê. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Đỗ Hữu C, mẹ của bị cáo đã bồi thường cho bị hại Đỗ Hữu C số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng, ông Cầu không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Bà Nguyễn Thị N (là mẹ của bị cáo Lê Văn L) đã bồi thường cho Nguyễn Hữu T số tiền 8.500.000 đồng, anh Nguyễn Hữu T không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số seri DX3X9S3AJCM4, màu hồng, đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng đã bị bể hỏng, lưng điện thoại bị hư hỏng, bể, phần hỏng chiếm 98% bề mặt; bên trong có chứa sim điện thoại số 0876.944.xxx, đây là tài sản bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ đối với điện thoại và tịch thu tiêu huỷ đối với thẻ sim nêu trên do không còn giá trị sử dụng.
[7] Vấn đề có liên quan trong vụ án:
Đối với anh Nguyễn Hữu T là người mua con bò do bị cáo Lê Văn L trộm cắp của ông Đỗ Hữu C. Quá trình mua bò, anh T hoàn toàn không biết đó là tài sản do bị cáo L trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý đối với hành vi mua bò của anh Nguyễn Hữu T là phù hợp.
Đối với người tên Trương Công H là người cho bị cáo Lê Văn L mượn điện thoại để L đăng bán bò trên mạng xã hội. Theo lời khai của L thì Hậu không biết con bò mà L đăng bán là bò do L trộm cắp mà có. Đồng thời, không xác định được thông tin lai lịch của Hậu nên không có cơ sở xem xét, xử lý đối với Trương Công H.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 12, khoản 1 Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn L 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/12/2025)
Giao bị cáo Lê Văn L cho UBND xã Tây Hồ, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công quỹ : 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số seri DX3X9S3AJCM4, màu hồng, đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng đã bị bể hỏng, lưng điện thoại bị hư hỏng, bể, phần hỏng chiếm 98% bề mặt.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) thẻ sim điện thoại số 0876.944.xxx.
(Các vật chứng trên hiện đang được L giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực A – Đà Nẵng theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 06-11-2025)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/12/2025). Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Văn Long |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Lưu tội trộm cắp tài sản
