TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 302/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27/9/2025
V/v Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Thọ.
- Ông Trần Ngọc Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Văn Thị Ngọc H; sinh ngày 23/3/1982; số CCCD: [...] cấp ngày 12/6/2022; quê quán: Phường Q, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Tổ A, khu phố C, phường Q, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Đinh Văn V; sinh ngày 26/8/1978; số CMND: [...] cấp ngày 09/01/1996; quê quán: Phường Q, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Tổ A, khu phố C, phường Q, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 5 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Văn Thị Ngọc H trình bày:
Chị và anh Đinh Văn V tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định vào ngày 23/4/2001. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng nợ nần, công việc làm không suôn sẻ, chồng không biết lo cho gia đình, phải bán hết nhà cửa để trả nợ. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.
Vợ chồng chị có 01 con chung là Đinh Văn Trọng B, sinh ngày 15/11/2001. Hiện tại, con đã trưởng thành, đã đi làm và tự nuôi bản thân, nên chị không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; vợ chồng chị không có nợ chung ai.
* Bị đơn anh Đinh Văn V đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc, không gửi văn bản ý kiến và giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Văn Thị Ngọc H được ly hôn anh Đinh Văn V.
- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn chị Văn Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung với bị đơn anh Đinh Văn V. Tại phiên tòa, chị H vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh V tiếp tục vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vụ án hôn nhân gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai và phiên tòa vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
[2] Chị Văn Thị Ngọc H và anh Đinh Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay thuộc Ủy ban nhân dân phường Q, tỉnh Gia Lai) vào ngày 23/4/2001, nên hôn nhân giữa chị H và anh V là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 giữa vợ chồng chị H và anh V đã nảy sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do vợ chồng nợ nần, công việc làm không suôn sẻ, chồng không biết lo cho gia đình, phải bán hết nhà cửa để trả nợ và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Tòa án đã kiên trì động viên, hòa giải nhưng anh V không đến Tòa, không trình bày ý kiến, không quan tâm, có ý thức bỏ mặc cho mối quan hệ hôn nhân vốn đã rạn nứt đi đến không thể hàn gắn được. Sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng nêu trên đã làm cho hôn nhân giữa chị H và anh V lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giải quyết cho chị H được ly hôn anh V.
[3] Chị H và anh V có 01 con chung là Đinh Văn Trọng B, sinh ngày 15/11/2001, sức khỏe bình thường. Con chung đã thành niên, đã đi làm và tự nuôi sống bản thân, không ai yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản, do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội;
- - Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
- - Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Văn Thị Ngọc H và anh Đinh Văn V.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Văn Thị Ngọc H phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000613 ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Trần Duyên Anh |
4
Bản án số 302/2025/HNGĐ-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI về ly hôn
- Số bản án: 302/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H và anh V ly hôn
