|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 302/2025/DS-ST
Ngày: 30/9/2025
V/v tranh chấp “Đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG THÁP
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào
Bà Nguyễn Thị Nhung
-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Tháp.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 và 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 284/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 318/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Anh Đoàn Thanh T, sinh năm 1976. Địa chỉ: số D, khu phố G, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh)
Người được ủy quyền: Ông Võ Tuấn Vĩnh T1, sinh năm 1973. Địa chỉ: E P, ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (nay là khu phố B, phường T, tỉnh Đồng Tháp). Có mặt
-Bị đơn:
- Anh Nguyễn Hoàng M, sinh năm: 1972. Vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1986. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố C, phường T, tỉnh Đồng Tháp).
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1955. Vắng mặt
- Anh Trần Minh T2, sinh năm 1984. Vắng mặt
- Anh Trần Chí T3, sinh năm 1986. Vắng mặt
- Anh Trần Hoàng C, sinh năm 1975. Vắng mặt
- Chị Thái Ngọc Q, sinh năm 1982. Vắng mặt
- Trần Hoàng Q1, sinh năm 2000. Vắng mặt
- Trần Hoàng T4, sinh năm 2003. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Tổ D, Khu C, ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố C, phường T, tỉnh Đồng Tháp)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Võ Tuấn Vĩnh T1 trình bày:
Ngày 02/12/2022 vợ chồng anh Nguyễn Hoàng M và Nguyễn Thị Anh Đ có thỏa thuận chuyển nhượng cho anh Đoàn Thanh T quyền sử dụng đất diện tích 309,6m², thửa 702 tờ bản đồ số 67 tại ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang và căn nhà trên đất với số tiền là 600.000.000 đồng. Hai bên có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và văn bản thỏa thuận tài sản trên đất được Văn phòng C1, tỉnh Tiền Giang chứng nhận ngày 02/12/2022. Anh T đã trả đủ tiền cho vợ chồng anh M chị Đ nhận, có biên nhận ngày 02/12/2022 do anh M ký tên.
Sau khi nhận đủ số tiền chuyển nhượng nhà đất, vợ chồng anh M và chị Đ có xin anh T lưu cư trong thời gian 02 tháng để sắp xếp chỗ ở mới. Nhưng đến nay, anh M và chị Đ vẫn cố tình không chịu giao nhà đất cho anh T.
Ngày 16/8/2023 anh T được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với số thửa 702 tờ bản đồ số 67 diện tích 309,6m² trên, số vào sổ cấp GCN: CN26867.
Nay, anh T khởi kiện yêu cầu buộc vợ chồng anh Nguyễn Hoàng M và chị Nguyễn Thị Anh Đ, những người đang ở trên đất là bà Nguyễn Thị B, anh Trần Minh T2, anh Trần Chí T3, anh Trần Hoàng C, chị Thái Ngọc Q, anh Trần Hoàng Q1 và Trần Hoàng T4 phải di dời, giao căn nhà và quyền sử dụng đất diện tích 309,6m² thửa đất số 702, tờ bản đồ số 67 tại ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố C, phường T, tỉnh Đồng Tháp) cho anh Đoàn Thanh T quản lý sử dụng.
* Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không đến Tòa án tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa,
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, diện tích đất qua đo đạc thực tế là 307,1m², đồng thời yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán chi phí tố tụng là 18.600.000 đồng. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.
*Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đối với đương sự: nguyên đơn đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn Nguyễn Hoàng M, Nguyễn Thị Anh Đ; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị B, Trần Minh T2, Trần Chí T3, Trần Hoàng C, Thái Ngọc Q, Trần Hoàng Q1 và Trần Hoàng T4 được triệu tập tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung tranh chấp
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: buộc vợ chồng anh Nguyễn Hoàng M và chị Nguyễn Thị Anh Đ, những người đang ở trên đất là bà Nguyễn Thị B, anh Trần Minh T2, anh Trần Chí T3, anh Trần Hoàng C, chị Thái Ngọc Q, anh Trần Hoàng Q1 và Trần Hoàng T4 phải di dời, giao căn nhà và quyền sử dụng đất diện tích 307,1m² thửa đất số 702, tờ bản đồ số 67 tại ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố C, phường T, tỉnh Đồng Tháp) cho anh Đoàn Thanh T quản lý sử dụng; yêu cầu anh Nguyễn Hoàng M và chị Nguyễn Thị Anh Đ có nghĩa vụ thanh toán chi phí tố tụng cho nguyên đơn số tiền 18.600.000 đồng.
Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh T (bản sao), biên nhận tiền ngày 02/12/2022 (bản chính).
[2.1] Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến ngày xét xử, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không có ý kiến gì đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.
[2.2] Xét thấy, qua lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bị đơn cũng không có ý kiến phản đối gì nên căn cứ vào Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh
[2.3] Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/12/2022 thì anh M và chị Đ có chuyển nhượng cho anh T thửa đất 702 tờ bản đồ số 67 diện tích 309,6m² tại ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là Khu phố C, phường T, tỉnh Đồng Tháp). Đồng thời hai bên có ký văn bản thỏa thuận về tài sản trên đất, theo đó anh M chị Đ tự nguyện chuyển giao căn nhà trên thửa đất chuyển nhượng cho anh T mà không đòi hỏi thêm bất kỳ điều kiện gì, không tranh chấp về sau đối với tài sản này. Cả hợp đồng chuyển nhượng và văn bản thỏa thuận đều được công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Tiền Giang cùng ngày 02/12/2022.
[2.4] Theo anh T, giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 100.000.000 đồng nhưng giá thực tế là 600.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng và văn bản thỏa thuận tài sản trên đất, anh T đã giao đủ số tiền 600.000.000 đồng cho anh M và chị Đ theo biên nhận tiền ngày 02/12/2022, anh M và chị Đ có xin lưu cư thời gian 02 tháng để bàn giao tài sản. Sau đó thì anh T đã đăng ký làm thủ tục chuyển nhượng và được cấp giấy đất ngày 16/8/2023. Đến nay anh M, chị Đ vẫn chưa bàn giao tài sản nên anh T khởi kiện.
[2.5] Trong quá trình tố tụng, Tòa án có tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp thì hiện có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang sinh sống trong căn nhà trên phần đất trên.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn không có mặt để giải quyết vụ án, cũng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mặc nhiên từ bỏ quyền lợi của chính mình, đồng thời phải chịu mọi hậu quả đối với việc vắng mặt này.
[2.6] Qua đo đạc thực tế theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 thì phần đất có diện tích là 307,1m² (giảm diện tích 2,5m² do sai số đo đạc). Theo chứng thư thẩm định giá số 356/2025/092903/CT-BĐS ngày 29/9/2025 của Công ty cổ phần T5 thì quyền sử dụng đất có giá trị là 292.441.810 đồng, căn nhà có giá trị là 310.785.680 đồng, mái che có giá trị là 6.715.600 đồng. Tổng cộng là 610.000.000 đồng (làm tròn).
Xét thấy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thỏa thuận tài sản trên đất giữa anh T với anh M, chị Đ đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật, giá chuyển nhượng cũng tương đương giá trị tài sản. Anh T đã được cấp giấy đất nên anh có quyền quản lý, sử dụng đối với phần đất và quyền sở hữu đối với căn nhà trên đất. Vì vậy, cần buộc bị đơn cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ di dời tài sản trả căn nhà và quyền sử dụng đất cho anh T quản lý, sử dụng và sở hữu.
[3] Về án phí: Bị đơn chịu án phí không có giá ngạch theo quy định pháp luật. H tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 1.000.000 đồng, chi phí đo đạc theo Hợp đồng dịch vụ số 19/2025/HĐĐĐ ngày 15/4/2025 của Công ty TNHH Đ1 với số tiền 5.600.000 đồng, chi phí thẩm định giá theo Hợp đồng tư vấn – dịch vụ thẩm định giá số 25031802A/HĐ-TĐGVIET ngày 15/4/2025 của Công ty cổ phần T5 với số tiền 12.000.000 đồng, tổng cộng là 18.600.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp và chi xong, có yêu cầu bị đơn hoàn trả các chi phí này, yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn.
[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát có căn cứ, phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 164, 166 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Thanh T.
- Buộc bị đơn anh Nguyễn Hoàng M và chị Nguyễn Thị Anh Đ; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B, anh Trần Minh T2, anh Trần Chí T3, anh Trần Hoàng C, chị Thái Ngọc Q, anh Trần Hoàng Q1 và anh Trần Hoàng T4 di dời tài sản, trả quyền sử dụng đất và căn nhà gắn liền với đất thuộc thửa số 702 tờ bản đồ số 67, diện tích 307,1m² tại địa chỉ khu phố C, phường T, tỉnh Đồng Tháp cho anh Đoàn Thanh T quản lý, sử dụng và sở hữu. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật (Có phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất kèm theo).
- Về án phí: Bị đơn Nguyễn Hoàng M và Nguyễn Thị Anh Đ cùng chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.
H lại cho anh Đoàn Thanh T số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng số 0006293 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).
- Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn Nguyễn Hoàng M và Nguyễn Thị Anh Đ hoàn trả cho anh Đoàn Thanh T chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc và chi phí thẩm định giá số tiền là 18.600.0000 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án tuyên vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 30/9/2025. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Bảnh |
Bản án số 302/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG THÁP về đòi tài sản
- Số bản án: 302/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản đã nhận chuyển nhượng
