TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2026/HS-PT
Ngày 06/01/2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Viết Toàn.
Các Thẩm phán:
- Ông Vũ Văn Thuấn;
- Bà Hoàng Thị Mai Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tiến - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà:
Bà Đặng Thị Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Văn T.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 21/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đặng Văn T, sinh ngày 28/11/1986, tại tỉnh Quảng Ngãi; Căn cước công dân số: 051086014602 cấp ngày 18/8/2021; nơi thường trú: Thôn P, xã B, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã B, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Đặng Văn T1 và bà Nguyễn Thị H (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1992; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Đặng Văn T và anh Bùi Văn G đều đã có giấy phép lái xe hạng A1.
Vào chiều tối ngày 03/3/2025, Đặng Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76Y2-0376 (sau đây viết tắt là xe 76Y2-0376) chở theo vợ là chị Nguyễn Thị
Kim H1 cùng hai con là cháu Đặng Minh K, cháu Đặng Phương N đi từ nhà ở thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã B, tỉnh Quảng Ngãi) đến nhà cha mẹ ruột chị H1 ở thôn M, xã B để thăm chơi. Đến khoảng 20 giờ 25 phút cùng ngày, T điều khiển xe nêu trên chở chị H1 và các con trở về nhà theo hướng từ đường nhánh liên thôn đi ra tuyến đường T - D. Khi đi ra tuyến đường T - D (đoạn Km 03+650m, thuộc địa phận thôn M, xã B, tỉnh Quảng Ngãi), T điều khiển xe đi sát mép đường theo hướng Đông sang Tây ở phần đường phía Nam đường T - D, đi được khoảng 07 - 08 mét, T điều khiển xe rẽ phải ra gần giữa đường (nơi có vạch sơn trắng đứt quảng) trên phần đường phía Nam thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 76C1-256.05 (sau đây viết tắt là xe 76C1-256.05) do anh G điều khiển đang đi theo hướng Tây sang Đ ở phần đường phía Nam đường T - D làm anh G, bị cáo T, chị H1 và các cháu K, N bị thương tích, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, sau đó anh G chết trong tối cùng ngày.
Theo kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện đoạn đường nơi xảy ra tai nạn tại Km 03+650m tuyến đường T - D là đoạn đường thẳng có phương Đ – Tây được trải nhựa tương đối bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, lòng đường rộng 15m, ở giữa có vạch sơn vàng đứt quãng chia thành hai phần đường phương tiện lưu thông ngược chiều nhau, trong đó: Phần đường phía Nam nơi xảy ra tai nạn rộng 7,5m gồm hai làn đường được phân cách với nhau bằng vạch sơn màu trắng đứt quảng; phía Đông Nam khu vực xảy ra tai nạn có 01 (một) ngã ba giao nhau giữa tuyến đường T - D với đường bê tông có phương T - Đ.
Theo Kết luận giám định số 291/KL-KTHS, ngày 23/5/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận về dấu vết cơ học như sau: Điểm va chạm đầu tiên giữa xe 76Y2-0376 và xe 76C1-256.05 là bên trái bánh trước xe 76C1-256.05 (chà xát, rách cao su ở mặt lăn và má ốp bên trái bánh trước, gãy khuyết 03 đoạn vành niềng bánh trước) với mặt trước phuộc bên trái bánh trước xe 76Y2-0376 (hằn khuyết kim loại ở mặt trước phuộc bên trái bánh trước, chà xát bám dính chất lạ màu đen ở mặt ngoài, mặt dưới phuộc và ốc trục bên trái bánh trước); điểm va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe 76Y2-0376 và xe 76C1-256.05 là khu vực phía Tây đầu Tây dấu vết cày xước mặt đường thuộc làn đường phía Nam của phần đường phía Nam tuyến đường T - D; tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe 76C1-256.05 chuyển động theo hướng từ Tây sang Đ, xe 76Y2-0376 chuyển động theo hướng từ Đông sang T; không đủ cơ sở kết luận tốc độ của 02 phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.
Theo Kết luận giám định số 286/KL-KTHS, ngày 07/5/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận mẫu máu ghi thu của anh Giàu C cồn (E), nồng độ cồn (Ethanol) là 189mg/100ml máu, mẫu máu ghi thu của anh G không tìm thấy các chất ma tuý; theo hồ sơ bệnh án của T do Bệnh viện Đ1 cung cấp không thể hiện kết quả nồng độ cồn (Ethanol) trong máu của bị cáo T.
Theo Bản kết luận giám định số 38/KL-KLGĐTT-TTPY, ngày 17/3/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q kết luận nguyên nhân chết của anh G là do chấn thương sọ não.
Bản Cáo trạng số 121/CT-VKS-KV2, ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi truy tố bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 21/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025, xử phạt bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
2. Kháng cáo của bị cáo: Ngày 29/10/2025, bị cáo Đặng Văn T kháng cáo xin giảm mức hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.
3. Diễn biến tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, bị cáo thấy hối hận vì do lỗi của bị cáo đã gây đối với bị hại nên bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo quy định của pháp luật và đã được gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt là án treo cho bị cáo T. Bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình, có 02 con nhỏ. Nên đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Sau khi đánh giá, phân tích tính chất, nội dung vụ án, về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Đặng Văn T 01 (Một) năm tù về tội “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 21/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng phạm vi kháng cáo nên được Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Đặng Văn T đã có giấy phép lái xe hạng A1. Ngày 03/3/2025, bị cáo T có hành vi điều khiển xe mô tô BKS 76Y2-0376 tham gia giao thông đường bộ tại Km 03+650m tuyến đường T - D (thuộc thôn M, xã B, tỉnh Quảng Ngãi). Khi bị cáo chuyển làn đường đi qua phần đường phía bên trái thì va chạm với xe 76C1-256.05 do anh Bùi Văn G điều khiển. Hậu quả làm anh G bị thương tích, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, sau đó anh G chết trong tối cùng ngày. Hành vi đã nêu của Đặng Văn T vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật Trật tự, an toàn giao thông, gây hậu quả làm anh G chết nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cân nhắc về nhân thân, chính sách khoan hồng của pháp luật cho bị cáo và xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù là đúng quy định pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo Đặng Văn T đã cung cấp thêm một số tài liệu: 01 Đơn xin giảm nhẹ hình phạt được Trưởng thôn Bàu C1 xác nhận trong thời gian sinh sống tại địa phương bị cáo T là công dân tốt, chấp hành mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đơn được Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B ký xác nhận, đóng dấu; Bản thân bị cáo T từng có thời gian tham gia Quân đội nên cung cấp Quyết định cho quân nhân xuất ngũ, 01 bản công chứng Giấy chứng nhận đã tốt nghiệp khóa đào tạo tiểu đội trưởng thông tin vô tuyến điện, 01 bản công chứng Thẻ học nghề. Đại diện hợp pháp của bị hại (vợ của bị hại G) chị Nguyễn Thị D là tiếp tục có đơn đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T hưởng án treo.
Ngoài ra, trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe 76C1-256.05 tham gia giao thông trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn là vi phạm khoản 2 Điều 9 Luật Trật tự, an toàn giao thông. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 được hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự” (Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/11/2025) áp dụng thêm cho bị cáo.
HĐXX xét thấy: Do bị cáo Đặng Văn T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có nơi thường trú rõ ràng, trước khi phạm tội có nhân thân tốt là quân nhân xuất ngũ, chưa có tiền án, tiền sự, có khả năng tự cải tạo nên trường hợp cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, đủ điều kiện được áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC, ngày 10/7/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, cần chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T xin được hưởng án treo.
Kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 21/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi về biện pháp chấp hành hình phạt.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (06/01/2026).
Giao bị cáo Đặng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Quảng Ngãi theo dõi, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Văn T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (06/01/2026).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Viết Toàn |
Bản án số 30/2026/HS-PT ngày 06/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 30/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt
