Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/KDTM-ST

Ngày: 17/10/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tấn Triều
  2. Bà Lý Thị Kim Hân

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ: Bà Võ Thị Nhu – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 11/2025/TLST-KDTM ngày 18 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 796/2025/QÐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 351/2025/QĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N

Địa chỉ: Số B, L, phường G, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ liên hệ: Số H, N, phường N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Diệp Thị Mỹ T (có mặt)

(Văn bản ủy quyền ngày 25/02/2025)

Bị đơn: Công ty TNHH X

Địa chỉ: Số A, N, phường A, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị Mỹ T1 – Giám đốc (vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đỗ Thị Mỹ T1 sinh năm 2000 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.

  3. Công ty TNHH Một thành viên Đ
  4. Địa chỉ: Số B, L, phường N, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu T2 – Giám đốc (vắng mặt)

  5. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H (Nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Số I, C, phường C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng N (gọi tắt là ngân hàng) với công ty TNHH X (gọi tắt là công ty X) ký hợp đồng tín dụng số 1890-LAV-202101344 ngày 30/12/2021 (Dư nợ của hợp đồng tín dụng số 1890LAV202001057 ngày 11/8/2020 được mang sang theo dõi tại hợp đồng tín dụng số 1890-LAV-202101344 ngày 30/12/2021). Hạn mức tín dụng 40.000.000.000 đồng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn vay theo từng giấy nhận nợ cụ thể. Lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng theo từng giấy nhận nợ, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn.

Để đảm bảo cho các khoản vay: Ngày 11/08/2020, ngân hàng và bà Đỗ Thị Mỹ T1 ký hợp đồng thế chấp tài sản số 01/082020.27.1, số công chứng 2147, quyển số 02/2020/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Tài sản thế chấp gồm:

  1. Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 12, diện tích 255m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 663504 (số vào sổ cấp GCN: CH00744) do UBND thị xã L cấp ngày 15/01/2016, chỉnh lý biến động ngày 25/12/2019, ngày 29/7/2020.
  2. Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1672, tờ bản đồ số 12, diện tích 1705,8m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 144703 (số vào sổ cấp GCN: CH01424) do UBND thị xã L cấp ngày 27/12/2019, chỉnh lý biến động ngày 31/12/2019, ngày 29/7/2020.
  3. Tài sản 3: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1585, tờ bản đồ số 12, diện tích 100m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại ấp L, thị trấn T, huyện L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 397699 (số vào sổ cấp GCN: CH00701) do UBND huyện L cấp ngày 03/8/2015, chỉnh lý biến động ngày 24/4/2020, ngày 29/7/2020.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu T2 – Giám đốc (vắng mặt)

3. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H (Nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C (vắng mặt)

Địa chỉ: Số I, C, phường C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng N (gọi tắt là ngân hàng) với công ty TNHH X (gọi tắt là công ty X) ký hợp đồng tín dụng số 1890-LAV-202101344 ngày 30/12/2021 (Dư nợ của hợp đồng tín dụng số 1890LAV202001057 ngày 11/8/2020 được mang sang theo dõi tại hợp đồng tín dụng số 1890-LAV-202101344 ngày 30/12/2021). Hạn mức tín dụng 40.000.000.000 đồng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn vay theo từng giấy nhận nợ cụ thể. Lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng theo từng giấy nhận nợ, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn.

Để đảm bảo cho các khoản vay: Ngày 11/08/2020, ngân hàng và bà Đỗ Thị Mỹ T1 ký hợp đồng thế chấp tài sản số 01/082020.27.1, số công chứng 2147, quyển số 02/2020/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Tài sản thế chấp gồm:

  1. Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 12, diện tích 255m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 663504 (số vào sổ cấp GCN: CH00744) do UBND thị xã L cấp ngày 15/01/2016, chỉnh lý biến động ngày 25/12/2019, ngày 29/7/2020.
  2. Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1672, tờ bản đồ số 12, diện tích 1705,8m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 144703 (số vào sổ cấp GCN: CH01424) do UBND thị xã L cấp ngày 27/12/2019, chỉnh lý biến động ngày 31/12/2019, ngày 29/7/2020.
  3. Tài sản 3: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1585, tờ bản đồ số 12, diện tích 100m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại ấp L, thị trấn T, huyện L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 397699 (số vào sổ cấp GCN: CH00701) do UBND huyện L cấp ngày 03/8/2015, chỉnh lý biến động ngày 24/4/2020, ngày 29/7/2020.

Ngày 30/12/2021, ngân hàng và công ty TNHH Một thành viên Đ (gọi tắt là công ty Đ) ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/082020.27.2 số công chứng 4693, quyển số 02/2020/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H.

Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 270, tờ bản đồ số 22, diện tích 11.631,8m², đất thương mại dịch vụ, tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 281703 (số vào sổ cấp GCN: CT13185) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 03/6/2019.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty X đã không thực hiện trả nợ theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ và các cam kết đã ký với ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, yêu cầu công ty X trả nợ nhưng công ty X không thực hiện. Tính đến ngày 17/10/2025 công ty X còn nợ ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 54.971.257.259 đồng (Bao gồm: Nợ gốc là 39.960.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 11.693.277.807 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.317.979.452 đồng).

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu công ty X phải trả cho ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 17/10/2025 là 54.971.257.259 đồng. (Trong đó, nợ gốc là 39.960.000.000 đồng, nợ lãi 15.011.257.259 đồng). Công ty X phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 18/10/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ.

Trường hợp công ty X không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để ngân hàng thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/082020.27.1 ngày 11/08/2020 và đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/082020.27.2 ngày 30/12/2021.

Tại công văn số 1863/SNNMT-CCQLĐĐ ngày 28/8/2025 Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C trình bày:

Ngày 08/5/2019, UBND tỉnh H (cũ) phê duyệt chủ trương đầu tư dự án kho xăng dầu T do công ty TNHH MTV Đ (giấy đăng ký doanh nghiệp số 6300261356) làm chủ đầu tư tại quyết định số 741/QĐ-UBND với quy mô đầu tư: Diện tích sử dụng khoảng 11.631,8m², thuộc thửa đất số 607, 527, 531, 608, 425, 530, 476, 582, 581, 583; tờ bản đồ số 10 (theo hệ thống bản đồ địa chính chính quy là thửa 270, tờ bản đồ số 22), toạ lạc tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang (cũ).

Ngày 20/5/2019, UBND tỉnh H (cũ) ban hành quyết định số 804/QĐ-UBND về việc cho phép công ty Đ được chuyển mục đích sử dụng đất để đầu tư dự án Kho xăng dầu T.

Ngày 03/6/2019, công ty Đ đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H (theo ủy quyền của UBND tỉnh H (cũ)) ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CT13185, cụ thể: thửa đất số 270, tờ bản đồ số 22, diện tích 11.631,8 m², tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang (cũ); mục đích sử dụng: Đất thương mại, dịch vụ; thời hạn sử dụng đất đến ngày 20/5/2069; hình thức: Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê.

Ngày 30/12/2021, công ty Đ được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh H xác nhận đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại Ngân hàng N - Chi nhánh C1.

Ngày 19/01/2024, Uỷ ban nhân dân có Công văn số 73/UBND-NCTH về việc chấm dứt hoạt động dự án Kho xăng dầu T. Đến ngày 02/02/2024, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh H ban hành Quyết định số 10/QĐ-SKHĐT về việc chấm dứt hoạt động dự án Kho xăng dầu Thiên P do công ty Đ làm chủ đầu tư. Lý do: Trong quá trình thực hiện dự án, công ty Đ không thực hiện đúng nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư và không ký quỹ hoặc không có bảo lãnh nghĩa vụ ký quỹ theo điểm d khoản 2 Điều 48 Luật Đầu tư.

Ngày 19/02/2024, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H (cũ) ban hành thông báo số 06/TB-STNMT về việc xử lý tài sản và thu hồi đất sau khi chấm dứt dự án đầu tư. Theo đó, công ty Đ được tiếp tục sử dụng đất 24 tháng kể từ ngày dự án bị chấm dứt hoạt động để thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn nêu trên, nếu công ty Đ không thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản của mình gắn liền với đất thì Nhà nước sẽ thu hồi đất, không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định.

Căn cứ các quy định tại khoản 4, 5 Điều 48 Luật Đầu tư 2020, điểm d khoản 1 Điều 82 Luật Đất đai năm 2024, khoản 2 Điều 35 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP của Chính phủ, điểm k khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024: Thửa đất số 270, tờ bản đồ số 22, toạ lạc tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang (cũ) thuộc trường hợp thu hồi đất do chấm dứt dự án đầu tư. Công ty Đ được tiếp tục sử dụng đất 24 tháng kể từ ngày dự án bị chấm dứt hoạt động để thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn nêu trên, nếu công ty Đ không thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản của mình gắn liền với đất thì Nhà nước sẽ thu hồi đất, không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định.

Đồng thời, theo điểm k khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024, thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ thuộc trường hợp đăng ký biến động đất đai. Đối với việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật dân sự. Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng.

Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 17/10/2025 là 54.971.257.259 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 39.960.000.000 đồng, nợ lãi 15.011.257.259 đồng). Bị đơn phải chịu lãi phát sinh tính từ ngày 18/10/2025 cho đến khi trả tất nợ theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để nguyên đơn thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/082020.27.1 ngày 11/08/2020.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để nguyên đơn thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/082020.27.2 ngày 30/12/2021.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Xét về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ngân hàng N và bị đơn công ty TNHH X ký kết các hợp đồng tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về vắng mặt người tham gia tố tụng: Căn cứ văn bản số 5878/ĐKKD ngày 18/4/2025 của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Tài chính thành phố C: Công ty X có trụ sở tại số A, N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Đến thời điểm hiện tại, công ty chưa đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh hoặc giải thể. Căn cứ kết quả xác minh Công an phường A: Không có địa chỉ số A, N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Căn cứ kết quả xác minh Công an phường A: Công ty X không có đặt trụ sở tại số A, N, phường A, thành phố Cần Thơ.

Tòa án tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đối với bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Phía nguyên đơn có văn bản đề nghị không tiến hành hòa giải và đề nghị đưa vụ án ra xét xử. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

[2] Xét về nội dung

[2.1] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi của Ngân hàng

[2.1.1] Đối với hợp đồng tín dụng

Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đủ cơ sở xác định giữa ngân hàng với công ty X có ký các hợp đồng tín dụng như sau:

  • Hợp đồng tín dụng số 1890-LAV-202101344 ngày 30/12/2021. Hạn mức tín dụng 40.000.000.000 đồng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn vay theo từng giấy nhận nợ cụ thể. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng. Lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn.
  • Hợp đồng tín dụng số 1890LAV202001057 ngày 11/8/2020. Hạn mức tín dụng 24.000.000.000 đồng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn vay theo từng giấy nhận nợ cụ thể. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng. Lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn.

Dư nợ của hợp đồng tín dụng số 1890LAV202001057 ngày 11/8/2020 được mang sang theo dõi tại hợp đồng tín dụng 1890-LAV-202101344 ngày 30/12/2021.

Bà Đỗ Thị Mỹ T1 – Giám đốc công ty X đã ký giấy nhận nợ số 1890-LDS-2020.02100 ngày 19/8/2020, số tiền 24.000.000.000 đồng. Thời hạn cho vay 10 tháng (Từ ngày 19/8/2020 đến 19/6/2021), trả nợ gốc cuối kỳ, trả lãi vay định kỳ 3 tháng 1 lần, lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn.

Bà Đỗ Thị Mỹ T1 – Giám đốc công ty X đã ký giấy nhận nợ số 1890-LDS-2021.027112 ngày 31/12/2021, số tiền 16.000.000.000 đồng. Thời hạn cho vay 10 tháng (Từ ngày 31/12/2021 đến 31/10/2022), trả nợ gốc cuối kỳ, trả lãi vay định kỳ 3 tháng 1 lần, lãi suất cho vay 8,50%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn.

Ngân hàng đã giải ngân cho công ty X

theo giấy nhận nợ số 1890-LDS-2020.02100 ngày 19/8/2020 số tiền 24.000.000.000 đồng và theo giấy nhận nợ số 1890-LDS-2021.027112 ngày 31/12/2021 số tiền 16.000.000.000 đồng.

Tại thời điểm ký hợp đồng bà Đỗ Thị Mỹ T1 là người đại diện theo pháp luật của công ty X có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đầy đủ thẩm quyền theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Bà T1 nhận thức được hợp đồng giao kết với ngân hàng là hợp đồng tín dụng và tự nguyện giao kết hợp đồng.

Về hình thức, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty X vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn đối với khoản nợ vay đúng theo quy định Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Đối với yêu cầu lãi suất: Xét thấy trong hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ thể hiện mức lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng nên Ngân hàng yêu cầu công ty X thực hiện nghĩa vụ trả lãi là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện công ty X vắng mặt, không gửi văn bản thể hiện ý kiến, không cung cấp các chứng cứ có liên quan để bảo vệ quyền lợi cho công ty X.

Tính đến ngày 17/10/2025, công ty X còn nợ ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 54.971.257.259 đồng. Trong đó: Nợ gốc 39.960.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 11.693.277.807 đồng, lãi quá hạn 3.317.979.452 đồng.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu công ty X phải trả tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 17/10/2025 là 54.971.257.259 đồng (Trong đó bao gồm: Nợ gốc 39.960.000.000 đồng, nợ lãi 15.011.257.259 đồng). Công ty X phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 18/10/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ là đúng quy định khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Đối với hợp đồng thế chấp

[2.2.1] Đối với hợp đồng thế chấp tài sản số 01/082020.27.1 ngày 11/8/2020

Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng của công ty X, ngân hàng và bà Đỗ Thị Mỹ T1 ký hợp đồng thế chấp tài sản số 01/082020.27.1 ngày 11/8/2020 tại Văn phòng C. Hợp đồng được công chứng theo quy định khoản 2 Điều 119 và Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L, tỉnh Hậu Giang đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 nên về hình thức là hợp pháp.

Xét nội dung hợp đồng thế chấp: Ngân hàng xác nhận toàn bộ tài sản thế chấp là của bà Đỗ Thị Mỹ T1. Tài sản thế chấp gồm:

  1. Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 12, diện tích 255m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 663504 (số vào sổ cấp GCN: CH00744) do UBND thị xã L cấp ngày 15/01/2016, chỉnh lý biến động ngày 25/12/2019, ngày 29/7/2020.
  2. Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1672, tờ bản đồ số 12, diện tích 1705,8m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 144703 (số vào sổ cấp GCN: CH01424) do UBND thị xã L cấp ngày 27/12/2019, chỉnh lý biến động ngày 31/12/2019, ngày 29/7/2020.
  3. Tài sản 3: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1585, tờ bản đồ số 12, diện tích 100m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại ấp L, thị trấn T, huyện L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 397699 (số vào sổ cấp GCN: CH00701) do UBND huyện L cấp ngày 03/8/2015, chỉnh lý biến động ngày 24/4/2020, ngày 29/7/2020.

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được xác định theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/8/2025 đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Đỗ Thị Mỹ T1 như sau:

  • Tài sản 1: Diện tích phù hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 663504 (số vào sổ cấp GCN: CH00744) do UBND thị xã L cấp ngày 15/01/2016, chỉnh lý biến động ngày 25/12/2019, ngày 29/7/2020 cho bà Đỗ Thị Mỹ T1.
  • Tài sản 2: Diện tích phù hợp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 144703 (số vào sổ cấp GCN: CH01424) do UBND thị xã L cấp ngày 27/12/2019, chỉnh lý biến động ngày 31/12/2019, ngày 29/7/2020 cho bà Đỗ Thị Mỹ T1.
  • Tài sản 3: Diện tích phù hợp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 144703 (số vào sổ cấp GCN: CH01424) do UBND thị xã L cấp ngày 27/12/2019, chỉnh lý biến động ngày 31/12/2019, ngày 29/7/2020 cho bà Đỗ Thị Mỹ T1.

Về tài sản trên đất đều thuộc quyền sở hữu của bà Đỗ Thị Mỹ T1 gồm có:

  • 01 căn nhà cấp 4: 01 trệt, 01 lầu, vách kính cường lực, nền gạch men, mái tole, 01 trạm máy phát điện; 01 nhà ở nhân viên: Vách tường, mái tole, nền gạch men.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bà Đỗ Thị Mỹ T1 nhưng bà T1 không đến tham dự, không gửi văn bản nêu ý kiến cho Tòa án.

Vì vậy, trường hợp Công ty X không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và lãi của hợp đồng tín dụng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà Đỗ Thị Mỹ T1 để thu hồi nợ là đúng thỏa thuận hợp đồng thế chấp tài sản số 01/082020.27.1 ngày 11/8/2020. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2.2] Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/082020.27.2 ngày 30/12/2021

Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng của công ty X, ngân hàng và công ty Đ ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/082020.27.2 ngày 30/12/2021 tại Văn phòng C. Hợp đồng được công chứng theo quy định khoản 2 Điều 119 và Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

Tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp ông Nguyễn Hữu T2 là người đại diện theo pháp luật của công ty Đ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đầy đủ thẩm quyền theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Ông T2 nhận thức được hợp đồng giao kết với ngân hàng là hợp đồng thế chấp và tự nguyện giao kết hợp đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông T2 nhưng ông T2 không đến tham dự, không gửi văn bản nêu ý kiến cho Tòa án.

Xét nội dung hợp đồng thế chấp: Ngân hàng xác nhận toàn bộ tài sản thế chấp là của công ty Đ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 270, tờ bản đồ số 22, diện tích 11.631,8m², đất thương mại dịch vụ, tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 281703 (số vào sổ cấp GCN: CT13185) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 03/6/2019 cho công ty Đ.

Đại diện ngân hàng trình bày khi cho vay ngân hàng có tiến hành thẩm định, định giá tài sản theo đúng quy định pháp luật. Tại biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm ngày 30/12/2021 ngân hàng cung cấp có xác nhận của bên bảo đảm là công ty Đ.

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được xác định theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/8/2025: Về phần đất: Diện tích phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 281703 (số vào sổ cấp GCN: CT13185) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 03/6/2019 cho công ty Đ. Về tài sản trên đất: Do chủ đất khóa cửa nên không thể vào kiểm tra được hiện trạng tài sản trên đất, nhìn từ phía ngoài không có công trình, vật kiến trúc trên đất.

Xét nguồn gốc đất: Ngày 20/5/2019, UBND tỉnh H (cũ) ban hành quyết định số 804/QĐ-UBND về việc cho phép công ty Đ được chuyển mục đích sử dụng đất để đầu tư dự án Kho xăng dầu T. Ngày 03/6/2019, công ty Đ đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CT13185, cụ thể: Thửa đất số 270, tờ bản đồ số 22, diện tích 11.631,8 m², tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang (cũ), mục đích sử dụng: Đất thương mại, dịch vụ; thời hạn sử dụng đất đến ngày 20/5/2069, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước cho thuê đất trả tiền 01 lần. Được miễn tiền thuê đất 11 năm kể từ ngày 20/5/2019 đến ngày 20/5/2030 theo quyết định số 685/QĐ-CT ngày 31/5/2019 của Cục Thuế tỉnh H. Công ty Đ được miễn tiền thuê đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 110 Luật đất đai 2013.

Căn cứ quy định tại Điểm c khoản 4 Điều 174 Luật đất đai 2013: “Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng”.

Điều 175 Luật đất đai năm 2013 quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm. Cụ thể tại điểm b khoản 1 Điều 175 Luật đất đai 2013 quy định: “Thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam”.

Công ty Đ được nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần nhưng được miễm tiền thuê đất 11 năm thì sẽ thuộc trường hợp được thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê, không được quyền thế chấp quyền sử dụng đất. Vì vậy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/082020.27.2 ngày 30/12/2021 được ký kết giữa ngân hàng và công ty Đ là vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, căn cứ văn bản phúc đáp của Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C: Thửa đất số 270, tờ bản đồ số 22, toạ lạc tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang (cũ) thuộc trường hợp thu hồi đất do chấm dứt dự án đầu tư. Ngày 19/01/2024, UBND tỉnh H ban hành công văn số 73/UBND-NCTH về việc chấm dứt hoạt động dự án Kho xăng dầu T. Ngày 02/02/2024, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh H ban hành quyết định số 10/QĐ-SKHĐT về việc chấm dứt hoạt động dự án Kho xăng dầu Thiên P do công ty Đ làm chủ đầu tư. Lý do: Trong quá trình thực hiện dự án, công ty Đ không thực hiện đúng nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư và không ký quỹ hoặc không có bảo lãnh nghĩa vụ ký quỹ theo điểm d khoản 2 Điều 48 Luật Đầu tư. Công ty Đ bị thu hồi đất do chấm dứt dự án đầu tư theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 82 Luật Đất đai năm 2024.

Căn cứ quy định tại Điều 43a Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai (được bổ sung tại khoản 28 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ) quy định về xử lý quyền sử dụng đất đang cho thuê, đang thế chấp khi Nhà nước thu hồi đất. Công ty Đ đã vi phạm tiến độ sử dụng đất đầu tư dự án quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 thì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất bị chấm dứt.

Ngày 19/02/2024, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H (cũ) ban hành thông báo số 06/TB-STNMT về việc xử lý tài sản và thu hồi đất sau khi chấm dứt dự án đầu tư. Căn cứ quy định tại khoản 4 và 5 Điều 48 Luật Đầu tư 2020 và khoản 2 Điều 35 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP của Chính phủ: Công ty Đ được tiếp tục sử dụng đất 24 tháng kể từ ngày dự án bị chấm dứt hoạt động để thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn nêu trên, nếu công ty Đ không thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản của mình gắn liền với đất thì Nhà nước sẽ thu hồi đất, không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định.

Từ những phân tích trên, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 270, tờ bản đồ số 22, diện tích 11.631,8m², đất thương mại dịch vụ, tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 281703 (số vào sổ cấp GCN: CT13185) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 03/6/2019 của ngân hàng là không có cơ sở chấp nhận.

Do đó, kiến nghị Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C tiến hành xóa đăng ký giao dịch bảo đảm thế chấp bằng quyền sử dụng đất của ngân hàng N – Chi nhánh C1 II theo hồ sơ số 013185.TC.001 ngày 30/12/2021.

Ngân hàng N có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công ty Đ.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Bị đơn Công ty TNHH X phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Ngân hàng N đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi xong. Bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 (Mười triệu đồng).

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty TNHH X phải chịu án phí có giá ngạch là 162.971.000 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu đồng).

Ngân hàng N phải chịu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 79.294.000 đồng (Bảy mươi chín triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002035 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Cần Thơ). Ngân hàng N được nhận lại 78.994.000 đồng (Bảy mươi tám triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn đồng).

[5] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 30, Điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 325, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
  2. Buộc bị đơn Công ty TNHH X có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 17/10/2025 là 54.971.257.259 đồng (Năm mươi bốn tỷ, chín trăm bảy mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi bảy nghìn, hai trăm năm mươi chín đồng). Trong đó: Nợ gốc 39.960.000.000 đồng, nợ lãi 15.011.257.259 đồng. Bị đơn Công ty TNHH X phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 18/10/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ.

    Trường hợp bị đơn Công ty TNHH X không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số nợ nêu trên, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/082020.27.1 ngày 11/8/2020 để thu hồi nợ gồm:

    • - Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 12, diện tích 255m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 663504 (số vào sổ cấp GCN: CH00744) do UBND thị xã L cấp ngày 15/01/2016, chỉnh lý biến động ngày 25/12/2019, ngày 29/7/2020.
    • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1672, tờ bản đồ số 12, diện tích 1705,8m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 144703 (số vào sổ cấp GCN: CH01424) do UBND thị xã L cấp ngày 27/12/2019, chỉnh lý biến động ngày 31/12/2019, ngày 29/7/2020.
    • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1585, tờ bản đồ số 12, diện tích 100m², đất ở tại đô thị, tọa lạc tại ấp L, thị trấn T, huyện L, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 397699 (số vào sổ cấp GCN: CH00701) do UBND huyện L cấp ngày 03/8/2015, chỉnh lý biến động ngày 24/4/2020, ngày 29/7/2020.
  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 270, tờ bản đồ số 22, diện tích 11.631,8m², đất thương mại dịch vụ, tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 281703 (số vào sổ cấp GCN: CT13185) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 03/6/2019.
  4. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/082020.27.2 ngày 30/12/2021 được ký kết giữa ngân hàng N và công ty TNHH Một thành viên Đ vô hiệu.

    Kiến nghị Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C tiến hành xóa đăng ký giao dịch bảo đảm thế chấp bằng quyền sử dụng đất của ngân hàng N – Chi nhánh C1 II theo hồ sơ số 013185.TC.001 ngày 30/12/2021.

    Ngân hàng N có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công ty TNHH Một thành viên Đ.

  5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
  6. Bị đơn Công ty TNHH X phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Ngân hàng N đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi xong. Bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 (Mười triệu đồng).

  7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  8. Bị đơn Công ty TNHH X phải chịu án phí có giá ngạch là 162.971.000 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu đồng).

    Ngân hàng N phải chịu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 79.294.000 đồng (Bảy mươi chín triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002035 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Cần Thơ). Ngân hàng N được nhận lại 78.994.000 đồng (Bảy mươi tám triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn đồng).

  9. Về quyền kháng cáo:
  10. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND Khu vực 1 – Cần Thơ;
  • - Phòng THADS Khu vực 1 – Cần Thơ;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Trinh

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/KDTM-ST ngày 17/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 30/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger