Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 – GIA LAI

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày: 29-9-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Thuận

Ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thị Mỹ D, sinh ngày: 27/5/1997 tại huyện H, tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai); số CCCD: [...]; nơi cư trú: Khối A, xã T, tỉnh Gia Lai (cũ là khối A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Ngọc Á, sinh năm 1975 và bà Đặng Thị D1, sinh năm 1977; chồng: Lê Hiệp P, sinh năm 1997; con: có 01 người, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/01/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại.

  1. Bà Lê Hàng Q, sinh năm 1995
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  2. Ông Điềm Ngọc Q1, sinh năm 1988
    Địa chỉ: Khu phố A, phường H, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  3. Ông Trần Long K, sinh năm 1996
    Địa chỉ: Khối A, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  4. Bà Tăng Thị Kim L, sinh năm 1988
    Địa chỉ: Khối A, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  5. Bà Hồ Thị L1, sinh năm 1970
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, tỉnh Gia Lai (có mặt).
  6. Bà Đỗ Thị D2, sinh năm 1973
    Địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Gia Lai (có mặt).
  7. Ông Lê Thành Đ, sinh năm 1977
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  8. Bà Nguyễn Thị Kim L2, sinh năm 1988
    Địa chỉ: Khối H, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  9. Ông Bùi Hải T, sinh năm 1997
    Địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  10. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1988
    Địa chỉ: Thôn T, xã B, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  11. Bà Võ Thị T2, sinh năm 1979
    Địa chỉ: thôn A, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  12. Bà Huỳnh Thúy T3, sinh năm 1993
    Địa chỉ: Thôn T, xã B, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  13. Ông Phạm Thành H, sinh năm 1991
    Địa chỉ: Thôn A, xã V, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  14. Bà Lý Thị Duyên H4, sinh năm 1964
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  15. Bà Phan Thị H5, sinh năm 1980
    Địa chỉ: Thôn P, xã Â, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty T9
    Đại diện theo pháp luật: Pham Ngoc Khang
    Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Thái S, sinh năm 1993
    Địa chỉ: 1 N, phường Q, tỉnh Gia Lai (có đơn xin vắng mặt).
  2. Ông Lê Hiệp P, sinh năm 1997
    Địa chỉ: Khối A, xã T, tỉnh Gia Lai (có mặt).
  3. Ông Trần Quốc V, sinh năm 2002
    Địa chỉ: Khối A, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  4. Ông Nguyễn Thành H1, sinh năm 2000
    Địa chỉ: Khối H, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  5. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1987
    Địa chỉ: Thôn H, xã B, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  6. Ông Đỗ Anh Minh H2, sinh năm 1986
    Địa chỉ: Thôn H, xã B, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  7. Ông Nguyễn Ánh C, sinh năm 1988
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  8. Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1991
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  9. Ông Mạc Thanh T4, sinh năm 1997
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  10. Ông Bùi Thanh P1, sinh năm 2003
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  11. Bà Nguyễn Hồng D3, sinh năm 1994
    Địa chỉ: Khối P, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  12. Nguyễn Lê Tú C1, sinh năm 2007
    Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Lê Tú C1 là ông Nguyễn Hữu D4, sinh năm 1981
    Cùng địa chỉ: T, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  13. Bà Trần Thị Mỹ L4, sinh năm 2000
    Địa chỉ: Khối P, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  14. Ông Ngô Thế D5, sinh năm 1987
    Địa chỉ: 1 Q, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  15. Bà Nguyễn Thị Thế T5, sinh năm 1992
    Địa chỉ: Thôn P, xã B, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  16. Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1969
    Địa chỉ: Khối A, xã T, tỉnh Gia Lai (có mặt).
  17. Bà Nguyễn Thị Thuy H3, sinh năm 1960
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  18. Bà Trần Hằng N1, sinh năm 1990
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  19. Bà Lê Thị S1, sinh năm 1963
    Địa chỉ: Khối A, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  20. Bà Ngô Lê Bảo N2, sinh năm 1994
    Địa chỉ: Khối A, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  21. Ông Nguyễn Chí T7, sinh năm 1962
    Địa chỉ: K, xã T, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 11/12/2021 đến ngày 5/4/2024, Lê Thị Mỹ D (sinh năm 1997; ở Khối A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định; nay là khối A, xã T, tỉnh Gia Lai) là nhân viên hỗ trợ kinh doanh của Công ty T9 (có hợp đồng lao động, được phân công làm việc ở địa bàn huyện T, tỉnh Bình Định (cũ). D làm việc hàng ngày tại Cửa hàng M ở thị trấn P, huyện T. Công việc của D là hỗ trợ khách hàng vay tiền để mua xe mô tô và vay vốn để sử dụng mục đích khác. D và khách hàng liên hệ với nhau qua các cách thức: một là, D dựa trên dữ liệu của Công ty cung cấp, D điện thoại cho các khách hàng cũ để tư vấn về vấn đề vay; Hai là, khách hàng quen biết trước đó, điện thoại cho D nhờ tư vấn. Sau khi khách hàng đồng ý vay thì D và khách hàng sẽ gặp tại địa điểm do khách hàng lựa chọn, có thể là ở nhà, ở quán nước giải khát... D gặp khách hàng và tư vấn cụ thể về số tiền vay, lãi suất, phương thức trả, cách thức nhận tiền vay và cách thức trả. D sử dụng điện thoại di động của mình chụp ảnh căn cước công dân gửi về hệ thống Công ty để hoàn tất các thủ tục vay. Hợp đồng vay có 03 hình thức nhận tiền là: nhận qua thẻ tín dụng, chuyển khoản vào tài khoản của khách hàng, nhận tiền mặt tại các phòng giao dịch ngân hàng có liên kết với Công ty.

Quá trình làm công việc hỗ trợ khách hàng vay vốn, do cần tiền chi tiêu cho gia đình và trả nợ nên vào khoảng đầu tháng 10 năm 2023, D nảy sinh ý định lừa dối, chiếm đoạt tiền của khách hàng với các phương thức thủ đoạn như sau: Duyên liên hệ với khách hàng cũ hỏi có nhu cầu vay tiền của Công ty T10 credit hay không. Nếu khách hàng có nhu cầu vay thì D đến gặp và giả vờ hỗ trợ khách hàng vay như thật. Sau đó, khi hợp đồng được duyệt, nếu vay hình thức nhận tiền qua tài khoản ngân hàng thì D sẽ chuyển tiền về tài khoản V1 số 0373374448 do chồng của D là Lê Hiệp P (sinh năm 1997; ở khối A, xã T, tỉnh Gia Lai) đứng tên. Nếu hình thức nhận tiền là thẻ tín dụng thì D nói dối là chưa có tiền rồi đem thẻ tín dụng rút tiền sử dụng. Khi gặp khách hàng để hỗ trợ vay vốn D nói dối với họ là khi cần rút tiền bằng thẻ tín dụng thì đưa D rút sẽ không tốn phí. D nói nếu có nộp tiền tất toán hay tiền vay hàng tháng thì chuyển vào số tài khoản của D để D nộp giúp. Mục đích D nói như vậy với các khách hàng là để họ chuyển tiền vào tài khoản hoặc đưa thẻ tín dụng cho D rút thì D sẽ chiếm đoạt số tiền của họ để sử dụng. Với phương thức thủ đoạn trên, D đã 13 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với nhiều người, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào ngày 23/7/2023, D có hỗ trợ bà Hồ Thị L1 (sinh năm 1970; ở thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; nay là thôn Đ, xã V, tỉnh Gia Lai) vay tiền và làm 01 thẻ tín dụng hạn mức 12.000.000 đồng. Do tin theo lời nói dối của D trước đó là có giúp nộp tiền vay nên vào ngày 18/10/2023, bà L1 chuyển vào tài ngân hàng V2 đứng tên D với số tiền 11.684.000 đồng (tính phí chuyển tiền là số tiền 11.700.500 đồng) để nhờ D trả tiền vay giúp. Nhưng D đã lấy số tiền này sử dụng. Sau đó, D sợ bị Công ty và bà L1 phát hiện nên đã đóng tiền vào tài khoản vay của bà L1 hàng tháng từ tháng 11/2023 đến tháng 7/2023 với tổng số tiền là 6.517.925 đồng. Có tháng D không đóng tiền công ty điện thoại hỏi bà L1, bà L1 điện thoại hỏi D thì D nói dối là đã nộp tiền rồi nhưng trên hệ thống chưa cập nhật. Đến ngày 15/9/2024 là ngày đáo hạn khoản vay 12.000.000 đồng, D không có tiền trả nên mới thừa nhận với bà L1 là đã lấy số tiền trên sử dụng hết.

Vụ thứ hai: Vào ngày 18/6/2023, D có hỗ trợ cho chị Đỗ Thị D2 (sinh năm 1973; ở thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; nay là thôn P, xã T, tỉnh Gia Lai) vay tiền Công ty T9 nhận thẻ tín dụng với hạn mức 10.000.000 đồng. Chị D2 sử dụng thẻ này. Bị cáo D2 và chị D2 có số điện thoại nhau, thường liên lạc với nhau. Vào ngày 18/01/2024, bị cáo D2 điện thoại nói chị D2 là “giờ em đi Q rút tiền nè có cần rút tiền hay không đưa em rút cho”. Chị D2 đưa thẻ tín dụng và nhờ bị cáo D2 rút số tiền 9.900.000 đồng về đưa cho chị D2. Bị cáo D2 nhận thẻ và đến cửa hàng điện thoại di động ở huyện V, tỉnh Bình Định (cũ), không nhớ tên cửa tiệm, rút số tiền 9.900.000 đồng. Sau đó, bị cáo D2 về đưa thẻ cho chị D2 và nói dối là chưa có tiền. Sau đó, chị D2 nhiều lần hỏi có tiền chưa thì bị cáo D2 nói thật là đã lấy số tiền đó sử dụng. Sau đó, để tránh bị Công ty và chị D2 phát hiện, hàng tháng, bị can D2 tự nộp tiền vào thẻ tín dụng từ tháng 2/2024 đến tháng 10/2024 với tổng số tiền là 5.163.000 đồng. Cho đến ngày 26/4/2025, bị cáo D2 tất toán số tiền là 8.412.000 đồng.

Vụ thứ ba: Vào ngày 25/12/2023, D2 có hỗ trợ cho ông Lê Thành Đ (sinh năm 1977; ở khối E, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định; nay là khối E, xã T, tỉnh Gia Lai) vay tiền Công ty bằng hình thức nhận thẻ tín dụng với hạn mức là 50.000.000 đồng. Ông Đ tự sử dụng thẻ này. Do tin theo lời D2 nói trước đó là rút không tốn phí nên vào ngày 21/01/2024, ông Đ điện thoại cho D2 nhờ D2 rút giúp số tiền 30.000.000 đồng. D2 nảy sinh chiếm đoạt tiền của ông Đ nên đồng ý. Ông Đ đưa thẻ tín dụng và nhờ D2 rút số tiền 30.000.000 đồng. D2 nhận thẻ và đến cửa hàng điện thoại di động ở thành phố Q, tỉnh Bình Định (cũ), không nhớ tên cửa tiệm, rút số tiền 30.000.000 đồng, rồi về đưa thẻ cho ông Đ và nói dối là chưa có tiền. Sau đó, ông Đ hỏi Duyên sao có tin nhắn báo là đã rút rồi mà chưa có tiền. Duyên nói dối là do không tốn phí nên chờ lâu. Sau đó, ông Đ nhiều lần hỏi có tiền chưa thì D2 nói là chưa có. Ông Đ thấy lâu nên nói D2 hủy, đừng rút nữa. Sau đó, để tránh bị Công ty và ông Đ phát hiện, hàng tháng, D2 tự nộp tiền vào thẻ tín dụng từ tháng 3/2024 đến tháng 6/2024 với tổng số tiền là 7.739.000 đồng. Cho đến ngày 26/4/2025, D2 tất toán số tiền là 33.341.000 đồng.

Vụ thứ tư: Trước đó, D2 từng hỗ trợ vay cho chị Nguyễn Thị Kim L2 (sinh năm 1988; ở khối H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định; nay là khối H, xã T, tỉnh Gia Lai) nên có số điện thoại của chị L2. Vào ngày 24/01/2024, D2 hẹn gặp chị L2 ở quán cà phê thị trấn P để tư vấn vay tiền. Tại đây, chị L2 nói cần tiền khoảng 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để mua xe máy hiệu Honda Airblade. Duyên chụp ảnh chị L2 và thao tác trên điện thoại di động của D2 gửi về Công ty để duyệt hợp đồng vay số tiền 24.000.000 đồng, với hình thức nhận tiền qua thẻ tín dụng. Khi hợp đồng vay phê duyệt xong. D2 nói chị L2 chưa có tiền, thực tế là khi Công ty kích hoạt thẻ thì đã có tiền. D2 nói dối là khi có tiền sẽ rút về đưa cho chị L2. D2 cầm thẻ tín dụng này đến cửa tiệm điện thoại ở thành phố Q (cũ), không rõ tiệm nào, rút số tiền 24.000.000 đồng tiền mặt. Sau đó, chị L2 nhiều lần điện thoại D2 hỏi có tiền chưa thì D2 nói dối là chưa có nên chị L2 nói hủy hợp đồng vay. Sau đó, để tránh bị Công ty và chị L2 phát hiện, hàng tháng, D2 tự nộp tiền vào thẻ tín dụng từ tháng 3/2024 đến tháng 10/2024 với tổng số tiền là 12.309.000 đồng. Cho đến ngày 26/4/2025, D2 tất toán số tiền là 19.374.000 đồng.

Vụ thứ năm: Thông qua khách hàng tên T7 giới thiệu D2 biết anh Bùi Hải T (sinh năm 1997; ở thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; nay là thôn B, xã B, tỉnh Gia Lai) cần vay tiền. Vào ngày 25/01/2024, D2 có hẹn gặp anh T ở quán nước vỉa hè thị trấn P. Tại đây, anh T đồng ý vay số tiền là 15.000.000 đồng, hình thức nhận tiền là qua thẻ tín dụng. Duyên chụp ảnh anh T và thao tác trên điện thoại di động của D2 để gửi về Công ty để duyệt hợp đồng vay. Khi hợp đồng vay phê duyệt xong. D2 nói anh T là tiền sẽ về thẻ tín dụng này và đưa thẻ này cho anh T xem nhưng nói dối là hiện tại chưa có tiền, thực tế là khi Công ty kích hoạt thẻ thì đã có tiền. D2 nói dối là khi nào thẻ có tiền sẽ rút về đưa cho anh T chứ không biết rút sẽ tốn phí. D2 cầm thẻ tín dụng này đến cửa tiệm điện thoại ở thành phố Q (cũ), không rõ tiệm nào, rút số tiền 15.000.000 đồng tiền mặt. Sau đó, T nhiều lần điện thoại hỏi D2 có tiền chưa thì D2 nói dối là chưa có nên T nói hủy hợp đồng vay. Sau đó, để tránh bị Công ty và anh T phát hiện, hàng tháng, D2 tự nộp tiền vào thẻ tín dụng từ tháng 3/2024 đến tháng 7/2024 với tổng số tiền là 6.139.000 đồng. Cho đến ngày 26/4/2025, D2 tất toán số tiền là 10.662.000 đồng.

Vụ thứ sáu: Vào khoảng năm 2022, D2 có hỗ trợ cho chị Trần Thị T1 (sinh năm 1988; ở thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nay là thôn T, xã B, tỉnh Gia Lai) vay mua xe trả góp ở cửa hàng M, thị trấn P (cũ) nên có số điện thoại của chị T1. Vào khoảng tháng 2/2024, không nhớ ngày cụ thể, D2 điện thoại cho chị T1 để hỏi tư vấn về việc có cần vay tiền hay không. Chị T1 đồng ý nhờ D2 hỗ trợ vay nên vào chiều ngày 20/2/2024 D2 đến nhà chị T1. Tại đây, D2 hỏi chị T1 cần vay bao nhiêu tiền, hình thức nhận tiền thì chị T1 thống nhất vay số tiền là 30.000.000 đồng, thời hạn 12 kỳ, lãi suất 49,5%/năm, hình thức nhận tiền là chuyển khoản vào tài khoản của chị T1. Duyên chụp ảnh chị T1 và thao tác trên điện thoại di động của D2 gửi về Công ty để duyệt hợp đồng vay. Khi hợp đồng vay phê duyệt xong. Do có ý định chiếm đoạt số tiền vay từ trước nên D2 mượn điện thoại của chị T1 để tải ứng dụng internet banking và tạo tài khoản ngân hàng MB với thông tin của chị T1 để tiền được chuyển vào số tài khoản này. Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản MB của chị T1 thì D2 chuyển ngay vào tài khoản ngân hàng đứng tên Lê Hiệp P. Duyên nói dối chị T1 là chưa giải ngân chờ vài ngày. Sau đó, chị T1 liên tục gọi hỏi D2 có tiền chưa nhưng D2 nói chưa có và nói khi nào chị nhận tiền mới tính lãi, cứ yên tâm. Khi đến thời hạn trả nợ hàng tháng, do sợ bị Công ty và chị T1 phát hiện nên D2 đóng tiền cho hợp đồng này từ tháng 3/2024 đến tháng 7/2024 với tổng số tiền là 17.115.000 đồng. Cho đến ngày 26/4/2025, D2 tất toán số tiền 22.928.680 đồng.

Vụ thứ bảy: Trước đó, D2 hỗ trợ chị Võ Thị T2 (sinh năm 1979; ở Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nay là thôn A, xã T, tỉnh Gia Lai) vay tiền mua xe ở cửa hàng M nên có số điện thoại chị T2. Vào khoảng cuối tháng 2 đầu tháng 3/2024, D2 điện thoại cho chị T2 để hỏi có cần vay tiền hay không. Chị T2 đồng ý, nên vào sáng ngày 01/3/2024, D2 đến nhà chị T2 để hỗ trợ làm hợp đồng vay. Chị T2 thống nhất vay số tiền gốc là 30.000.000 đồng, thời hạn 12 kỳ, lãi suất 49,5%/năm, hình thức nhận tiền là chuyển khoản vào tài khoản. Duyên chụp ảnh chị T2 và thao tác trên điện thoại di động của D2 để gửi về Công ty duyệt hợp đồng vay. Khi hợp đồng vay phê duyệt xong. Do có ý định chiếm đoạt số tiền vay từ trước nên D2 sử dụng điện thoại của D2 tải ứng dụng internet banking và tạo tài khoản ngân hàng MB với thông tin của chị T2, ngân hàng gửi mã OTP về số điện thoại chị T2. Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản MB của chị T2 thì D2 chuyển ngay vào tài khoản ngân hàng V1 đứng tên Lê Hiệp P. Duyên nói dối chị T2 là chưa giải ngân chờ vài ngày. Sau đó, chị T2 liên tục gọi hỏi D2 có tiền chưa nhưng D2 nói chưa có và nói khi nào chị nhận tiền mới tính lãi nên chị cứ yên tâm. Khi đến thời hạn trả nợ hàng tháng, D2 sợ bị Công ty và chị T2 phát hiện nên đã đóng tiền cho hợp đồng này từ tháng 4/2024 đến tháng 10/2024 với tổng số tiền là 23.485.000 đồng. Cho đến ngày 26/4/2025, D2 tất toán số tiền 15.463.000 đồng.

Vụ thứ tám: Vào ngày 02/3/2024, chị Lê Hàng Q (sinh năm 1995; ở khối E, thị trấn P, huyện T; nay là khối E, xã T) hẹn gặp D2 tại quán T11 ở khối C, xã T để nhờ D2 tư vấn, làm hồ sơ vay tiền. Tại đây, chị Q đồng ý vay số tiền gốc là 20.000.000 đồng, thời hạn vay 9 kỳ, lãi suất 45%/năm, hình thức nhận tiền là chuyển khoản vào tài khoản của chị Q. Duyên chụp ảnh chị Q và thao tác trên điện thoại di động của D2 để gửi về Công ty duyệt hợp đồng vay. Khi hợp đồng vay phê duyệt xong. Do có ý định chiếm đoạt số tiền vay từ trước đó nên D2 mượn điện thoại của Q để tải ứng dụng Internet Banking và tạo tài khoản ngân hàng T12 với thông tin của chị Q để tiền được chuyển vào tài khoản này. Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản T12 của Q thì D2 chuyển ngay vào tài khoản ngân hàng V1 đứng tên Lê Hiệp P. Sau đó, D2 nói dối Q là chưa giải ngân, chờ vài ngày. Thời gian sau, Q nhiều lần hỏi D2 về hồ sơ vay của mình thì D2 trả lời là hồ sơ vay chưa được phê duyệt, bảo Q tiếp tục đợi. Khi đến thời hạn trả nợ hàng tháng, D2 sợ bị Công ty và Q phát hiện nên đã đóng tiền cho hợp đồng này từ tháng 3/2024 đến tháng 7/2024 với tổng số tiền là 11.617.402 đồng. Cho đến ngày 16/9/2024, D2 tất toán số tiền 12.000.000 đồng.

Vụ thứ chín: Vào khoảng năm 2022, D2 có hỗ trợ cho chị Tăng Thị Kim L (sinh năm 1988; ở thôn P, xã T, huyện T; nay là thôn P, xã T) vay tiền tiêu dùng nên có số điện thoại của chị L. Vào khoảng tháng 3/2024, không nhớ ngày cụ thể, D2 điện thoại cho chị L để hỏi tư vấn về việc có cần vay tiền hay không. Chị L đồng ý nhờ D2 hỗ trợ vay. Vào ngày 4/3/2024, D2 đến nhà gặp chị L. Tại đây, D2 nói chị L cần vay bao nhiêu tiền, hình thức nhận tiền thì chị L đồng ý vay số tiền gốc là 20.000.000 đồng, thời hạn vay 12 kỳ, lãi suất 49.5%/năm, hình thức nhận tiền là chuyển khoản vào tài khoản của chị L. Duyên chụp ảnh chị L và thao tác trên điện thoại di động của D2 để gửi về Công ty để duyệt hợp đồng vay. Khi hợp đồng vay phê duyệt xong, D2 mượn điện của chị L để tải ứng dụng internet banking và tạo tài khoản ngân hàng MB với thông tin của chị L để tiền được chuyển vào số tài khoản này. Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản MB của chị L thì D2 chuyển ngay vào tài khoản ngân hàng V1 tên Lê Hiệp P. Rồi D2 nói dối chị L là chưa giải ngân, phải chờ vài ngày. Sau đó, chị L liên tục gọi hỏi D2 có tiền chưa nhưng D2 nói chưa có và nói khi nào chị nhận tiền mới tính lãi, cứ yên tâm. Khi đến thời hạn trả nợ hàng tháng, D2 sợ bị Công ty và chị L phát hiện nên đóng tiền cho hợp đồng này từ tháng 3/2024 đến tháng 7/2024 với tổng số tiền là 9.160.000 đồng. Cho đến ngày 26/4/2025, D2 tất toán số tiền 17.488.000 đồng.

Vụ thứ mười: Do D2 từng hỗ trợ vay tiền cho anh Đ1 Ngọc Q1 (sinh năm 1988; ở KP A, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; KP A, phường H, tỉnh Gia Lai) nên anh Q1 có số điện thoại của D2. Vào khoảng đầu tháng 3/2024, anh Q1 điện thoại cho D2 hỏi có khoản vay nào rẻ không. D2 nói để kiểm tra và liên lạc lại. Đến chiều ngày 10/3/2024, D2 điện thoại cho anh Q1 và nói có gói vay 20.000.000 đồng, anh Q1 đồng ý vay. D2 đến gặp anh Q1 tại quán nước vỉa hè ở thành phố Q. Tại đây, anh Q1 đồng ý vay số tiền gốc là 20.000.000 đồng, thời hạn vay 15 kỳ, lãi suất 40%/năm, hình thức nhận tiền là chuyển khoản vào tài khoản của anh Q1. Duyên chụp ảnh anh Q1 và thao tác trên điện thoại di động của D2 gửi về Công ty để duyệt hợp đồng vay. Khi hợp đồng vay phê duyệt xong, D2 mượn điện thoại của anh Q1 để tải ứng dụng internet banking và tạo tài khoản ngân hàng MB với thông tin của anh Q1 để tiền được chuyển vào tài khoản này. Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản MB của anh Q1 thì D2 chuyển ngay vào tài khoản ngân hàng V1 tên Lê Hiệp P. Duyên nói dối anh Q1 là chưa giải ngân chờ vài ngày. Sau đó, anh Q1 liên tục gọi hỏi D2 có tiền chưa nhưng D2 nói chưa có và nói khi nào anh nhận tiền mới tính lãi, cứ yên tâm. Khi đến thời hạn trả nợ hàng tháng D2 sợ Công ty và anh Q1 phát hiện nên đã đóng tiền cho hợp đồng này từ tháng 4/2024 đến tháng 9/2024 với số tiền là 11.028.000 đồng. Cho đến ngày 26/4/2025, D2 tất toàn số tiền 14.714.000 đồng.

Vụ thứ mười một: Vào ngày 04/8/2023, D2 hỗ trợ cho chị Huỳnh Thúy T3 (sinh năm 1993; ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; nay là thôn T, xã B, tỉnh Gia Lai) vay tiền Công ty T9 bằng hình thức nhận thẻ tín dụng với số tiền là 20.000.000 đồng. Chị T3 tự sử dụng thẻ này. D2 và chị T3 có số điện thoại và thường liên lạc với nhau. Vào ngày 04/4/2024, chị T3 gọi D2 hẹn gặp quán nước nói chuyện, kiểm tra thẻ còn bao nhiêu tiền để rút. Duyên kiểm tra và biết thẻ còn số tiền là 20.000.000 đồng. D2 nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này nên nói chị T3 là “có cần rút hay không để em rút giùm cho”. Chị T3 đưa thẻ tín dụng và nhờ D2 rút số tiền 20.000.000 đồng về đưa cho chị T3. D2 nhận thẻ và đến cửa hàng điện thoại di động ở thành phố Q (cũ), không nhớ tên cửa tiệm, rút số tiền 20.000.000 đồng. D2 về đưa thẻ cho chị T3 và nói dối là chưa có tiền. Sau đó, chị T3 nhiều lần hỏi có tiền chưa thì D2 nói thật là đã lấy số tiền trên sử dụng. Duyên năn nỉ chị T3 sẽ trả lại số tiền trên cho chị T3. Sau đó, D2 đã chuyển tiền trả dần cho chị T3 và Chị T3 tự trả tiền vào hợp đồng vay. Cho đến khi còn lại số tiền 8.482.000 đồng, chị T3 bảo D2 nộp vào thẻ tín dụng coi như là xóa nợ với chị T3. Ngày 26/4/2024, D2 đã nộp số tiền 8.482.000 đồng tất toán hợp đồng.

Vụ thứ mười hai: Vào ngày 07/2/2023, D2 hỗ trợ cho anh Trần Long K (sinh năm 1996; ở khối A, xã T) vay tiền Công ty T9 nhận qua thẻ tín dụng với hạn mức là 10.000.000 đồng. Khải sử dụng thẻ này. D2 và anh K có số điện thoại và thường liên lạc với nhau. Vào ngày 19/4/2024, D2 nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền còn trong thẻ tín dụng của anh K để sử dụng nên điện thoại nói K là “giờ chị đi Q nè có rút tiền thì đưa chị rút cho”. Khải đưa thẻ tín dụng và nhờ D2 rút số tiền 7.000.000 đồng về đưa cho K. D2 nhận thẻ và đến cửa hàng điện thoại di động thành phố Q (cũ), không nhớ tên cửa tiệm, rút số tiền 7.000.000 đồng. D2 về đưa thẻ cho K và nói dối là chưa có tiền, do không tốn phí nên lâu chút. Sau đó, K nhiều lần hỏi D2 có tiền chưa nhưng D2 vẫn nói dối là chưa có. Hàng tháng, để tránh bị Công ty và anh K phát hiện, D2 tự nộp tiền vào thẻ tín dụng từ tháng 5/2024 đến tháng 10/2024 với tổng số tiền là 1.822.000 đồng. Ngày 08/8/2025, D2 đã nộp số tiền 7.933.991 đồng tất toán hợp đồng.

Vụ thứ mười ba: Vào ngày 05/3/2024, D2 hỗ trợ anh Phạm Thành H (sinh năm 1991; ở thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; nay là thôn A, xã V, tỉnh Gia Lai) vay tiền và làm 01 thẻ tín dụng hạn mức 27.000.000 đồng. Vào ngày 13/8/2024, do tin theo lời nói dối của D2 trước đó là có giúp nộp tiền vay nên H chuyển vào tài khoản ngân hàng V2 đứng tên D2 với số tiền 4.685.000 đồng nhờ D2 nộp giúp. Nhưng D2 không nộp giúp mà đã chiếm đoạt số tiền trên để sử dụng. Khoảng vài ngày sau, anh H điện thoại hỏi D2 đóng tiền chưa thì D2 nói thật là đã lấy tiền anh H sử dụng hết và hứa sẽ trả lại. Đến ngày 20/9/2024, D2 chuyển khoản trả lại cho anh H số tiền trên.

Về dân sự: Lê Thị Mỹ D đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả xong cho Trần Thị T1, Trần Thị T8, Tăng Thị Kim L, Nguyễn Thị Kim L2, Bùi Hải T, Điềm Ngọc Q1, Trần Long K, Đỗ Thị D2, Huỳnh Thúy T3, Lê Thành Đ, Phạm Thành H, Lê Hàng Q. Những bị hại trên không yêu cầu gì khác, xin giảm nhẹ hình phạt cho D2. Riêng đối với số tiền 11.684.000 đồng đã chiếm đoạt của bà Hồ Thị L1, D2 chỉ mới khắc phục được số tiền 2.684.000 đồng, số tiền còn lại chưa khắc phục là 9.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 18/CT – VKSKV4 ngày 19/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Thị Mỹ D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận.

Bị hại Hồ Thị L1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 9.000.000 đồng. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì.

Các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo D đồng ý bồi thường số tiền 9.000.000 đồng cho bị hại Hồ Thị L1.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Gia Lai đề nghị: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thị Mỹ D về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ D từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.

- Về dân sự: Căn cứ Điều 584, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo phải trả cho bà Hồ Thị L1 số tiền 9.000.000 đồng.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Thị Mỹ D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa. Người bị hại, người liên quan thống nhất về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và mức bồi thường của bị cáo. Ngoài ra bị hại, người liên quan không có tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đây là bài học cho bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Quá trình làm nhân viên hỗ trợ kinh doanh của Công ty T9, từ ngày 18/10/2023 đến ngày 13/8/2024, tại địa bàn huyện T và V, tỉnh Bình Định (cũ), Lê Thị Mỹ D (sinh năm 1997; ở khối A, xã T, tỉnh Gia Lai) đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của 13 người gồm: Đỗ Thị D2 (sinh năm 1973), Lê Thành Đ (sinh năm 1977), Võ Thị T2 (sinh năm 1979), Lê Hàng Q (sinh năm 1995), Tăng Thị Kim L (sinh năm 1988), Nguyễn Thị Kim L2 (sinh năm 1988), Trần Long K (sinh năm 1996) cùng ở xã T, tỉnh Gia Lai, Hồ Thị L1 (sinh năm 1970; ở xã V, tỉnh Gia Lai), Bùi Hải T (sinh năm 1997, ở xã B, tỉnh Gia Lai), Trần Thị T1 (sinh năm 1988; ở xã B, tỉnh Gia Lai), Điềm Ngọc Q1 (sinh năm 1988; ở phường H, tỉnh Gia Lai), Huỳnh Thúy T3 (sinh năm 1993; ở xã B, tỉnh Gia Lai), Phạm Thành H (sinh năm 1991; ở xã V, tỉnh Gia Lai) với tổng số tiền chiếm đoạt là 242.269.000 đồng rồi sử dụng để chi tiêu sinh hoạt gia đình và trả nợ hết.

Hành vi của bị cáo Lê Thị Mỹ D đã cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Lê Thị Mỹ D về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng cố ý thực hiện hành vi xâm phạm đến tài sản của các bị hại trái pháp luật, gây mất anh ninh, trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Mỹ D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bị cáo đã khắc phục hậu quả, các bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bị hại L1 và bị cáo D thỏa thuận bị cáo sẽ trả cho bà Hồ Thị L1 số tiền 9.000.000 đồng trong tháng 11/2025.

[6] Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Đối với anh Lê Hiệp P là chủ tài khoản ngân hàng V1 số 0373374448 nhưng tài khoản này chủ yếu do bị cáo Lê Thị Mỹ D sử dụng. Anh P không biết việc D chiếm đoạt tiền của người khác rồi chuyển vào tài khoản ngân hàng trên nên không có căn cứ xử lý hình sự.

[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Gia Lai đề nghị xử phạt bị cáo từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù và bồi thường cho bị hại Hồ Thị L1 số tiền 9.000.000 đồng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48; điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào các Điều 584, 586, 589 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Lê Thị Mỹ D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt Bị cáo Lê Thị Mỹ D 07 (Bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thị Mỹ D phải trả cho bà Hồ Thị L1 số tiền 9.000.000 (Chín triệu) đồng.
  4. Về án phí:
    • 4.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Mỹ D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
    • 4.2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Mỹ D phải nộp 450.000 (Bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  6. Về quyền nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng THADS khu vực 4;
  • - Bộ phận HSNVCS Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH GIA LAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo D chiếm đoạt tài sản của người khác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger