Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - NINH BÌNH

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày: 19 - 11 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thế Quang;

Ông Nguyễn Văn Bốn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L

, sinh năm 1989, nơi cư trú: Xóm I, xã H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V (đã chết) và bà Trần Thị T; gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ sáu; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T1 và có 02 con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 30/5/2004, bị Công an huyện H, tỉnh Nam Định (nay là Công an tỉnh N) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác”.
  • Ngày 24/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 10/2020/QĐ-TA.

Bị tạm giữ từ ngày 05/8/2025 đến ngày 14/8/2025 chuyển tạm giam; “có mặt”.

- Bị hại: Ông Đinh Văn K, sinh năm 1975; địa chỉ: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình; “vắng mặt”

- Người làm chứng: Ông Phạm Văn K1; “vắng mặt”;

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T2; “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 05/8/2025, Nguyễn Văn L đi bộ từ nhà đến khu vực chợ B thuộc xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma tuý sử dụng cho bản thân. L khai khi đến khu vực chợ B, L đã nhờ một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ mua hộ 200.000 đồng tiền heroine, tuy nhiên khi người đàn ông này nhận 200.000 đồng từ L thì đã bỏ chạy. Do không có tiền mua ma tuý nên L đi bộ lang thang ở khu vực xóm H, xã G tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 9 giờ 50 phút cùng ngày, khi đến khu vực công trình xây dựng nhà anh Phạm Văn K1 trú tại xóm H, xã G, L phát hiện thấy một số xe mô tô dựng ở vỉa hè trước nhà anh K1 được phủ bạt che nắng, không có người trông coi, trong đó có xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu vàng đen, BKS: 60B8-126.04, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khoá điện, đây là xe của ông Đinh Văn K (là thợ xây đang thi công nhà anh K1). Quan sát xung quanh không có ai, L lén lút đi đến gần, lật bạt che nắng và dắt xe của ông K xuống lòng đường cách vị trí ban đầu khoảng 3 mét. Sau đó L ngồi lên xe, nổ máy, vào số định điều khiển xe đi khỏi hiện trường thì bị ông K phát hiện, hô hoán cùng quần chúng nhân dân bắt giữ giao cho Công an xã G.

Công an xã G đã đưa L cùng tang vật về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng là chiếc xe mô tô BKS: 60B8-126.04, sau đó bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 07/8/2025, Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô bị chiếm đoạt. Tại Kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 13/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận:

- Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: JUPITER, màu: vàng – đen, biển kiểm soát: 60B8-126.04, tình trạng đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 05/8/2025 có trị giá 3.533.333 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 02/CT-VKS-KV10 ngày 20/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình đã truy tố hành vi của Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh và hình phạt chính:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Ông Đinh Văn K đã nhận lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu vàng - đen, biển kiểm soát: 60B-126.04 và không có ý kiến gì nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” như nội dung vụ án đã nêu, bị cáo công nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội của mình.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc kết tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 05/8/2025, tại xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản, Nguyễn Văn L đã thực hiện trộm cắp chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter, màu: vàng đen, biển kiểm soát: 60B8-126.04 trị giá 3.533.333 đồng của ông Đinh Văn K. Vì vậy, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang, bức xúc cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc theo quy định của pháp luật thì mới có tác dụng răn đe đấu tranh, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ vào nhân thân tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Đinh Văn K đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu vàng - đen, biển kiểm soát: 60B-126.04 và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, màu vàng - đen, biển kiểm soát: 60B-126.04, quá trình điều tra xác định tài sản hợp pháp của anh Đinh Văn K, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại chiếc xe cho ông K là phù hợp.

[9] Trong vụ án này, Nguyễn Văn L còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được không đủ căn cứ để xử lý bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã bàn giao hồ sơ liên quan cho Công an xã G để tiếp tục xác minh, xem xét xử lý hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính ngày 05/8/2025.
  2. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm,
  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND + VKSND tỉnh;
  • - VKSND khu vực 10 - Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Hải Hưng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Thung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 05/8/2025, tại xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản, Nguyễn Văn L đã thực hiện trộm cắp chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter, màu: vàng đen, biển kiểm soát: 60B8-126.04 trị giá 3.533.333 đồng của ông Đinh Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger