Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 – ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-9-2025

V/v “Ly hôn”

 

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Lượng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lãm

Ông Trương Sáng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Dương Mỹ Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 về việc “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thị N, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (cũ) nay là tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) nay là xã P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh T kết hôn năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) là xã P, tỉnh Đồng Nai ngày 06 tháng 5 năm 2013. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp và khác biệt về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, đến khoảng tháng 9/2024 bà đã sống ly than với ông T. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Minh T.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà và ông T có 02 con chung là Nguyễn Minh Bảo P, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2014 và Nguyễn Minh Bảo N1 sinh ngày 19/9/2019. Khi ly hôn bà đề nghị giao 01 con chung Nguyễn Minh Bảo P, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2014 cho ông T được trực tiếp chăm sóc nuôi đến khi trưởng thành; đề nghị giao 01 con chung Nguyễn Minh Bảo N1 sinh ngày 19/9/2019 cho bà được trực tiếp chăm sóc nuôi đến khi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Bà tự thỏa thuận với ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Minh T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có bản lời khai.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đều thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hướng giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện sống chung với nhau có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, sau đó phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không nói chuyện, chia sẻ được với nhau nên mâu thuẫn càng trầm trọng, hiện nay đã sống ly thân và nguyên đơn có nguyện vọng được ly hôn; Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn và giao 01 con chung Nguyễn Minh Bảo P, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2014 cho ông T được trực tiếp chăm sóc nuôi đến khi trưởng thành; đề nghị giao 01 con chung Nguyễn Minh Bảo N1 sinh ngày 19/9/2019 cho bà được trực tiếp chăm sóc nuôi đến khi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu tòa án giải quyết thì đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Bà Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Nguyễn Minh T, ông T1 có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) nay thuộc xã P, tỉnh Đồng Nai. Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn”. Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13- Đồng Nai.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Nguyễn Minh T vắng mặt không có lý do. Xét thấy, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T được hình thành trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) là xã P, tỉnh Đồng Nai ngày 06 tháng 5 năm 2013, đúng quy định pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Thị N, Hội đồng xét xử thấy: Bà N trình bày trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nay mâu thuẫn trở nên trầm trọng, vợ chồng không nói chuyện được với nhau, đời sống hôn nhân trở nên căng thẳng, mệt mỏi, không ai quan tâm đến ai, do đời sống không hòa hợp mâu thuẫn kéo dài Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, ngày 04 tháng 9 năm 2025 Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương nơi ông T, bà N cư trú được biết “bà N, ông T có mâu thuẫn bà N bỏ đi sau đó lại về chung sống, hiện nay bà N bỏ về quên hay ở đâu không rõ”. Từ những căn cứ trên cho thấy hôn nhân giữa bà N ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Thị N.

[2.2] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung:

Bà N và ông T có 02 con chung là là Nguyễn Minh Bảo P, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2014 và Nguyễn Minh Bảo N1 sinh ngày 19/9/2019. Khi ly hôn bà đề nghị giao 01 con chung Nguyễn Minh Bảo P, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2014 cho ông T được trực tiếp chăm sóc nuôi đến khi trưởng thành; đề nghị giao 01 con chung Nguyễn Minh Bảo N1 sinh ngày 19/9/2019 cho bà được trực tiếp chăm sóc nuôi đến khi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Ông T không hợp tác, không có ý kiến gì về con, các biên bản xác minh thể hiện hiện nay cháu P đang sinh sống cùng ông T, cháu N1 đang sinh sống cùng bà N. Nên để bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên và sự phát triển ổn định của các cháu cần chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án bà N không có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con do vậy ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:

Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm:

Bà Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 147; 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Luật 85/2025/QH 15 của Quốc hội khóa 15 ngày 25/6/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các Điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị N.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Thị N được ly hôn ông Nguyễn Minh T.
    • - Giao 01 con chung Nguyễn Minh Bảo P, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2014 cho ông T được trực tiếp chăm sóc nuôi đến khi trưởng thành; giao 01 con chung Nguyễn Minh Bảo N1 sinh ngày 19/9/2019 cho bà N được trực tiếp chăm sóc nuôi đến khi trưởng thành, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
    • - Sau khi ly hôn ông T, bà N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần bà N, ông T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng.
  2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008548 ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (cũ) nay là phòng Thi hành án khu vực 13 - Đồng Nai.
  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND khu vực 13 – Đồng Nai;
  • - Phòng THA khu vực 13 – Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phú Nghĩa; T. Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Lượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐỒNG NAI về ly hôn

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger