|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 09 - 2025
V/v: “ Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng.
Ông Lưu Xuân Tiến.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 144/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Bùi Ngọc T, sinh ngày 17/11/1995; Căn cước công dân số 036095009957, cấp ngày 24/6/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, tỉnh Ninh Bình (Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định cũ). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 19/8/2001; Căn cước công dân số 036301000589, cấp ngày 28/6/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã C, tỉnh Ninh Bình (Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định cũ); Địa chỉ liên lạc: Xóm F Phú Thọ, xã N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, các bản tự khai, nguyên đơn anh Bùi Ngọc T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Thu H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 14/12/2023 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định nay là xã C, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, khác biệt về tính cách nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị H nhiều lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Vợ chồng sống ly thân từ ngày 24/7/2024 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Đến nay tình cảm giữa anh với chị H không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa. Anh đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu H.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thu H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng, không gửi văn bản ý kiến cho Toà án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản làm việc ngày 28/8/2025 và ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình, bà Hà Thị T1 là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị H và anh T kết hôn ngày 14/12/2023; đăng ký tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định nay là xã C, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn một thời gian ngắn thì vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn; đến tháng 07 năm 2024, chị H về nhà của vợ chồng bà sinh sống. Chị H và anh T đã sống ly thân từ đó đến nay. Thời gian gần đây, chị H đi làm xa nhưng chị H vẫn thường xuyên đi về và liên lạc với gia đình bà. Do chị H không có mặt ở nhà nên bà đã nhận thay các văn bản của Toà án gửi về và đã thông báo cho chị H được biết. Chị H có nhờ bà thông báo lại quan điểm của chị H đồng ý ly hôn theo đơn của anh T. Vợ chồng chị không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Do điều kiện công việc nên chị không thể đến Toà án làm việc được, chị đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt chị theo quy định pháp luật.
Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 16/05/2025, Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định nay là Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Ninh Bình cung cấp:
Anh Bùi Ngọc T và chị Nguyễn Thị Thu H có đăng ký kết hôn ngày 14/12/2023 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống, vợ chồng anh T và chị H có xảy ra mâu thuẫn nhưng nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không nắm rõ. Chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) ở. Anh T và chị H không có con chung. Về tài sản, công nợ của vợ chồng anh T, chị H thì địa phương không nắm được. Hiện nay chị H vẫn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (nay là Thôn T, xã C, tỉnh Ninh Bình). Việc anh Bùi Ngọc T xin ly hôn chị Nguyễn Thị Thu H, đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Ninh Bình tại phiên toà phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên toà của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt làm việc theo giấy triệu tập của Toà án nên chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị xử cho ly hôn giữa anh Bùi Ngọc T và chị Nguyễn Thị Thu H. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên nghĩa vụ nộp án phí đối với anh Bùi Ngọc T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Xử cho ly hôn giữa anh Bùi Ngọc T và chị Nguyễn Thị Thu H.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Bùi Ngọc T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004115 ngày 16/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh Ninh Bình. Anh Bùi Ngọc T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Bùi Ngọc T và bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H đều vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Kiên |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn giữa anh T và chị H
