TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST Ngày 29-9-2025 (Về việc: Ly hôn) | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quốc Kỳ
Ông Hoàng Bá Viên
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 17/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Quách Thị K, sinh năm 1995 (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Bùi Văn D, sinh năm 1991 (Vắng mặt lần 2 không có lý do)
Cùng cư trú tại: Xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quách Thị K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Bùi Văn D trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình ngày 20/8/2020 (Nay là xã M, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn anh D chuyển về nhà chị và bố mẹ đẻ chị tại xóm T, xã T (nay là xã M) để sinh sống. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh D thường xuyên ghen tuông, rượu chè về chửi bới chị và xúc phạm gia đình chị, sự việc vợ chồng mâu thuẫn cả hai bên gia đình đều biết, cũng đã hòa giải nhưng anh D không thay đổi. Đến năm 2023 anh D bị sốc thuốc phải đưa đi cấp cứu chị mới biết anh D nghiện ma túy, sau đó anh phải đi cai nghiện theo Quyết định của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, đến ngày 18/02/2025 anh cai nghiện xong trở về địa phương nhưng vợ chồng lại tiếp tục xẩy ra mâu thuẫn, được một thời gian anh bỏ đi làm, anh có nói với chị là đi làm ở Hà Nội nhưng không nói rõ địa chỉ ở đâu, hiện tại chị vẫn liên lạc được với anh D qua điện thoại nhưng anh không nói cho chị biết địa chỉ ở đâu, chỉ khi nào nhà có việc gì gọi thì anh về rồi anh lại đi luôn. Hiện tại vợ chồng đang sống ly thân. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn gia đình hết sức trầm trọng, không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh D để chị sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị và anh D không có con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không vay nợ chung của tổ chức, cá nhân nào, do vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị K tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Bị đơn anh Bùi Văn D:
Anh Bùi Văn D đã được Tòa án triệu tập, niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Do đó, Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để anh D biết nhưng anh vẫn vắng mặt tại phiên tòa tất cả các lần mà không có lý do.
- Quá trình giải quyết vụ việc ly hôn, Toà án đã thu thập chứng cứ, tiến hành điều tra xác minh tại địa phương nơi cư trú của bị đơn anh Bùi Văn D, kết quả như sau:
- Kết quả xác minh tại Công an xã M có nội dung như sau: Anh Bùi Văn D, sinh năm 1991 hiện trú tại xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ, anh D là đối tượng quản lý sau cai nghiện, hiện tại anh không có mặt tại địa phương.
- Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của chị Quách Thị K và anh Bùi Văn D được chính quyền địa phương cung cấp: Chị K và anh D là công dân của xóm T, xã M. Trước khi kết hôn anh D trú tại xóm U, xã T, huyện C (N là xã M) sau khi kết hôn anh chuyển về nhà chị K ở xóm T, xã T, huyện C (N là xã M). Quá trình chung sống anh chị xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do anh D thường xuyên ghen tuông, rượu chè về chửi bới xúc phạm chị K và gia đình chị. Sự việc anh chị mâu thuẫn gia đình và chính quyền địa phương đều biết, đã hòa giải nhưng anh D vẫn không thay đổi, Bản thân anh D bị nghiện ma túy và phải đi cai nghiện theo Quyết định của án nhân dân huyện C năm 2024, đến tháng 02/2025 anh D cai nghiện xong trở về nhà chị K sinh sống vợ chỗng vẫn nảy sinh mâu thuẫn, hiện tại anh chị đang sống ly thân, theo như chị K nói anh D đi làm ở Hà Nội, thỉnh thoảng anh vẫn về nhà rồi lại đi, khi đi anh không khai báo với chính quyền địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015);
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, Luật Hôn nhân và gia đình:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị K; xử cho chị Quách Thị K được ly hôn anh Bùi Văn D.
- Về con chung: Chị K và anh D không có con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị K khai không có, không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc chị Quách Thị K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Bùi Văn D đã được triệu tập hợp lệ để lấy lời khai, trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo mà không có lý do. Tòa án đã niêm yết Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đã xác minh tại nơi cư trú của anh Bùi Văn D, tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh D vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Quách Thị K và anh Bùi Văn D khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình (Nay là xã M, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 20/8/2020 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy hôn nhân giữa chị Quách Thị K và anh Bùi Văn D được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh D thường xuyên ghen tuông, rượu chè về chửi bới chị K, sự việc vợ chồng mâu thuẫn cả hai bên gia đình và chính quyền địa phương đều biết, đã hòa giải nhưng anh D vẫn không thay đổi. Bản thân anh D nghiện ma túy và phải đi cai nghiện theo Quyết định của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, đến ngày 18/02/2025 anh cai nghiện xong trở về địa phương nhưng vợ chồng lại tiếp tục xẩy ra mâu thuẫn và anh bỏ đi làm ăn, vợ chồng đang sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã nhiều lần đến nhà niêm yết văn bản và nhưng anh D không đến Tòa án để giải quyết ly hôn và hòa giải nên chị K phải đề nghị giải quyết ly hôn đơn phương theo quy định của pháp luật.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Quách Thị K và anh Bùi Văn D đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại cho đến nay. Mặt khác, Tòa án đã niêm yết văn bản tố tụng để anh D biết việc chị K nộp đơn xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án để thể hiện ý kiến của mình, điều này chứng tỏ anh D cũng không mong muốn được hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn với anh Bùi Văn D của chị Quách Thị K là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị Quách Thị K và anh Bùi Văn D không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Quách Thị K khai không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi Điều 35 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015);
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị Quách Thị K được ly hôn với anh Bùi Văn D.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Quách Thị K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0000225 ngày 14/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
- Về quyền kháng cáo: Chị Quách Thị K và anh Bùi Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ về ly hôn
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Kiều xin ly hôn anh D
