|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc ————— |
|
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST. Ngày 25-11-2025. “V/v Ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Quỳnh;
- Bà Lại Thị Lân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025, về việc ly hôn; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1999; địa chỉ xóm B, xã D, tỉnh Phú Thọ; “Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- Bị đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1996; địa chỉ tổ dân phố K, phường C, tỉnh Lào Cai; “Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và Bản tự khai chị Nguyễn Thị H trình bày:
- + Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 11 tháng 11 năm 2018 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại bản Khá Hạ, xã T, huyện V một thời gian rồi chuyển đến sinh sống và làm ăn tại tỉnh Hòa Bình; trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm về lối sống, suy nghĩ và cách ứng xử, nên cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể chia sẻ và hàn gắn được, vợ chồng không còn yêu thương và tôn trọng nhau nữa. Do tình cảm vợ chồng không còn, nên chị H và anh T đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa.
- Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân như hiện nay, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Đinh Văn T.
- + Con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn T không có con chung.
- + Tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt anh Đinh Văn T trình bày:
- + Quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Văn T và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái, vào ngày 11 tháng 11 năm 2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ của anh T ở bản K, xã T, huyện V một thời gian, rồi vợ chồng cùng đi làm ăn tại tỉnh Hòa Bình; trong quá trình chung sống do không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm, nên tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không được hạnh phúc, đến năm 2020 anh T về sống cùng bố mẹ tại tổ dân phố K, phường C, tỉnh Lào Cai hiện nay và ly thân với chị H, từ đó đến nay vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa; chị H xin ly hôn anh T nhất trí.
- + Con chung: Anh Đinh Văn T và chị Nguyễn Thị H không có con chung.
- + Tài sản chung và nợ chung: Anh Đinh Văn T không đề nghị Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 11 tháng 11 năm 2018 và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Như vậy, hôn nhân của chị H và anh T là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh T đều xác định là có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc; hiện hai người đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau; chị H xin ly hôn, anh T nhất trí. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã thật sự trầm trọng; đời sống chung vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đinh Văn T.
[3] Con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn T không có con chung.
[4] Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 262, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đinh Văn T.
- Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số: 0000913 ngày 02/10/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh L; chị H đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Vũ Xuân |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST. ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI về ly hôn
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST.
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Đing Văn T
