|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 17 tháng 12 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Thanh; Ông Đặng Văn Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 17/12/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 19/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 03/12/2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn T
, sinh ngày 24/11/1996 tại tỉnh Bắc Ninh.Số căn cước công dân: 027096003298.
Nơi ĐKHKTT: Khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; Có vợ Hà Hồng N, sinh năm 1996 và có 02 con (lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2025); Tiền sự: Không;
Tiền án: Có 01. Tại bản án số 198/2022/HSST ngày 19/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (cũ) xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 27/4/2024 (đã nộp án phí HSST ngày 22/11/2022).
Nhân thân: Ngày 12/10/2021, Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (cũ) ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B).
-
Lưu Hoài S
, sinh ngày 22/02/2005 tại tỉnh Bắc Ninh.Số căn cước công dân: 027205013213.
Nơi ĐKHKTT: Khu V, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Hoài N1, sinh năm 1981 và con bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1982; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B).
Người tham gia tố tụng khác:
-
Bà Nguyễn Thị L1 – Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh (có mặt ở điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh).
-
Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 01/8/2025, tại đường L, phường N, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường N bắt quả tang Lưu Hoài S có hành vi cất giấu tại túi quần phía trước bên trái 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 03 viên nén màu hồng và các hạt tinh thể màu trắng. Ngoài ra S tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen.
Cùng ngày, Nguyễn Văn T đến Công an phường N đầu thú về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lưu Hoài S. T tự nguyện giao nộp số tiền 400.000 đồng; 05 túi nilon màu trắng bên trong chứa 10 viên nén màu hồng và các hạt tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 07 viên nén màu hồng. Ngoài ra T giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3 màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu trắng, màn hình cảm ứng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T ở khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại bản Kết luận giám định số 1609/KL-KTHS ngày 03/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận (số ma túy thu giữ trên người Lưu Hoài S):
- + 03 viên nén màu hồng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,2806 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.
- + Các hạt tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,0860 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất."
Tại bản Kết luận giám định số 1612/KL-KTHS ngày 03/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận (số ma túy do Nguyễn Văn T giao nộp):
- + Các viên nén màu hồng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 1,5465 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.
- + Các hạt tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 0,7378 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất."
Nguyễn Văn T, Lưu Hoài S khai nhận toàn bộ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân và nguồn gốc số ma túy như sau:
Ngày 31/7/2025, T gặp và mua ma túy của một người đàn ông không quen biết tại khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, T chia nhỏ số ma túy vào trong các túi nilon mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/8/2025, Lưu Hoài S sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen gắn sim số 0868835638 gọi điện đến tài khoản Zalo “Thành Thần Đ” hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá ngựa. Sau đó, S đi bộ đến nhà T ở khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây S đưa cho T 200.000 tiền mặt và chuyển khoản 200.000 đồng. T nhận tiền và đưa cho S 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 03 viên nén màu hồng và các hạt tinh thể màu trắng. S cất ma túy vào túi quần phía trước bên trái rồi đi tìm chỗ sử dụng thì bị Công an phường N, kiểm tra, bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSKV6 ngày 19/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố Lưu Hoài S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn T và Lưu Hoài S khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo T có bán 400.000 đồng ma túy cho bị cáo S để sử dụng. Các bị cáo đồng ý với kết luận giám định số ma túy đã thu giữ, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo không có ý kiến gì về số tiền 400.000 đồng và 03 điện thoại bị thu giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Lưu Hoài S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt và điều luật áp dụng
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 54 tháng tù đến 60 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lưu Hoài S từ 38 tháng tù đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng và 03 chiếc điện thoại di động các bị cáo sử dụng để liên lạc, chuyển khoản tiền khi giao dịch mua bán ma túy.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện rõ: Hồi 14 giờ ngày 01/8/2025, tại đường L, phường N, tỉnh Bắc Ninh, Lưu Hoài S có hành vi tàng trữ 0,3666 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng. Cùng ngày, Nguyễn Văn T đến Công an phường N đầu thú về hành vi bán trái phép chất ma túy cho S được 400.000 đồng và giao nộp số ma túy có khối lượng 2,2843 gam ma túy Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy T cất giữ để bán kiếm lời là 2,6509 gam ma túy Methamphetamine (trong đó T đã bán cho S 0,3666 gam ma túy Methamphetamine).
Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạm vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và hành vi của bị cáo Lưu Hoài S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân; nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, các bị cáo đã có hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích thu lời bất chính, thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử các bị cáo kịp thời nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Bị cáo S không có tiền án, tiền sự. Bị cáo T có nhân thân xấu: Ngày 19/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (cũ) xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tính đến nay chưa hết thời hạn xóa án tích nên coi là tiền án. Ngoài ra, ngày 12/10/2021 UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (cũ) ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tính đến nay không coi là tiền sự nhưng Hội đồng xét xử sẽ đánh giá về nhân thân bị cáo khi lượng hình.
Các bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng quy định trong Bộ luật hình sự, do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo. Nhưng khi lượng hình cần xem xét sau khi phạm tội và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo T đầu thú và bị cáo S có ủy quyền cho mẹ đẻ ủng hộ quỹ thiên tai, người nghèo được UBMTTQ phường N xác nhận, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo S có giao nộp giấy khen đỗ đại học và ông nội bị cáo là thương binh không phải là có thành tích xuất sắc trong học tập hoặc bố mẹ đẻ của bị cáo có công với cách mạng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng là tình tiết giảm nhẹ. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo T có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền để sung vào ngân sách nhà nước, nhưng xét các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng: Số vật chứng của vụ án chưa xử lý, nay xử lý như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
[6] Liên quan trong vụ án này có người đàn ông bán ma túy cho T tại phường N, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo T không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Lưu Hoài S phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 54 (năm mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2025.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lưu Hoài S 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2025.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam số 62/2025/HSST-QĐTG ngày 17/12/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T và Quyết định tạm giam số 63/2025/HSST-QĐTG ngày 17/12/2025 đối với bị cáo Lưu Hoài S của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo quy định. Bên ngoài ghi chữ: Cơ quan CSĐT-CAT Bắc Ninh, mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Văn T SN 1996. Khu T, N, Bắc Ninh có hành vi mua bán trái phép chất ma túy kèm theo KLGĐ số 1612/KL-KTHS ngày 03/8/2025.
- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo quy định. Bên ngoài ghi chữ: Cơ quan CSĐT-CAT Bắc Ninh, mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Lưu Hoài S tàng trữ trái phép chất ma túy kèm theo KLGĐ số 1609/KL-KTHS ngày 03/8/2025.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen xanh, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng kèm 01 sim (tại thời điểm giao nhận vật chứng điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra được I); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3 màu trắng, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng (tại thời điểm giao nhận vật chứng điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra được I); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu trắng, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng (tại thời điểm giao nhận vật chứng điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra được I); số tiền 400.000 VNĐ (bốn trăm ngàn đồng chẵn) được nộp vào tài khoản 3949.0.1054521.00000 theo giấy nộp tiền ngày 13/11/2025 của Kho bạc nhà nước khu vực VI.
Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TTTPCMT
