TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 4 TỈNH AN GIANG Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày: 12/12/2025 | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH AN GIANG
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Thanh Toàn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Ông Phạm Văn Tài.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Nguyên - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 4, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hậu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh An Giang. Tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:
1/. Nguyễn Văn N, sinh ngày 25/10/1996. Nơi cư trú: ấp H, xã M, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Thợ xăm; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc C; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Bị cáo có vợ và một người con sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2025 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2/. Lương Thị Ê (tên gọi khác: Út B, T), sinh ngày 01/01/1975. Nơi cư trú: Tổ D, ấp H, xã M, tỉnh An Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn N1 (Đã chết) và bà Lưu Thị L (đã chết); Anh chị em ruột có 08 người, bị cáo là người con thứ 8 trong gia đình; Bị cáo có chồng và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, Tiền sự: Không.
2
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
3/. Bùi Thị L1 (tên gọi khác: Mỹ D), sinh ngày 01/01/1975. Nơi cư trú: Tổ C, ấp H, xã M, tỉnh An Giang. Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Q, sinh năm 1944 và bà Nguyễn Thị G (đã chết); Anh chị em ruột có 5 người, bị cáo là người con thứ 4 trong gia đình. Bị cáo có chồng và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
4/. Trần Thị P (tên gọi khác: T), sinh ngày 01/01/1970. Nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã M, tỉnh An Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C1 (Đã chết) và bà Huỳnh Thị C2 (đã chết); Anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ 7 trong gia đình; Bị cáo có chồng và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1999; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
5/. Nguyễn Thị L2, sinh ngày 13/8/1987. Nơi cư trú: Tổ C, ấp H, xã M, tỉnh An Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B1; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình. Bị cáo chưa có chồng, và chưa có con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
6/. Phạm Thị Kim N2, sinh ngày 24/8/1990. Nơi cư trú: Tổ G, ấp H, xã C, tỉnh An Giang. Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 (đã chết) và bà Võ Thị N3, sinh năm 1968; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người con thứ 2 trong gia đình; Bị cáo có chồng và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
7/. Nguyễn Bá N4, sinh ngày 20/02/1990. Nơi cư trú: ấp M, phường M, thành phố Cần Thơ. Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn
3
hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Trần Ánh N5; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người con thứ 2 trong gia đình; Bị cáo có vợ và có 02 người con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2025; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
8/. Nguyễn Thị M, sinh ngày 01/01/1972. Nơi cư trú: Tổ 1, ấp H, xã M, tỉnh An Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Nội trợ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N6 (đã chết) và bà Hoàng Thị D1 (đã chết); anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người con thứ 3 trong gia đình; Bị cáo có chồng và 02 người con cùng sinh năm 1994; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
9/. Lương Thị Bé N7 ( tên gọi khác: B2), sinh ngày 01/01/1967; Nơi cư trú: Khóm T, xã Ó, tỉnh An Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T1 (đã chết) và bà Trần Thị M1 (đã chết); Anh chị em có 04 người, bị cáo là người con thứ 3 trong gia đình; Bị cáo có chồng và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
10/. Nguyễn Thị Thu N8, sinh ngày 01/01/1982. Nơi cư trú: Tổ C, ấp H, xã M, tỉnh An Giang. Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng L3 (Đã chết) và bà Lý Thị Lệ H2; Bị cáo có chồng và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
11/. Trần Thị B3, sinh ngày 01/01/1956. Nơi cư trú: ấp H, xã M, tỉnh An Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Nội trợ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn P1 và bà Nguyễn Thị K; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người con thứ 2 trong
4
gia đình; Bị cáo có chồng và có 08 người con, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
12/. Cao Thị T2, sinh ngày 01/01/1960. Nơi cư trú: Tổ D, ấp H, xã M, tỉnh An Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn L4 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị A1 (đã chết); Anh chị em ruột có 5 người, bị cáo là người con thứ 2 trong gia đình; Bị cáo có chồng và có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ, ngày 25/7/2025, Công an xã M phối hợp Phòng C3 - Công an tỉnh A tiến hành bắt quả tang Nguyễn Văn N có hành vi thuê địa điểm tại khu vực phía sau nhà của bà Lương Thị Ê thuộc tổ D, ấp H, xã M, tỉnh An Giang (nay là xã M, tỉnh An Giang) để tổ chức cho Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3 và Cao Thị T2 đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ) được ăn, thua bằng tiền.
Tang vật thu giữ gồm: Số tiền 38.470.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc; 05 bộ bài Tây 52 lá (02 bộ đã qua sử dụng); 08 miếng kim loại hình tròn; 02 tấm bạt (cao su) nhựa sọc màu xanh - trắng; 01 tấm bạt nhựa màu đen; 01 tấm chiếu cối; 01 quạt máy (loại quạt 03 cánh màu trắng); 01 bóng đèn tròn màu trắng; 01 đoạn dây điện màu đỏ. Kiểm tra thu giữ trên người của các đối tượng tham gia đánh bạc và những người có liên quan, tổng số tiền 16.390.000 đồng.
Qua làm việc, Nguyễn Văn N, Lương Thị Ê, Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3 và Cao Thị T2, khai nhận như sau:
1. Nguyễn Văn N khai nhận:
Khoảng tháng 6/2025, thấy tại khu vực phía sau nhà Lương Thị Ê có vị trí thuận lợi nên Nguyễn Văn N thỏa thuận mượn địa điểm này của để tổ chức cho các con bạc tham gia đánh bạc, nhằm mục đích thu tiền xâu để tiêu xài cá nhân. Sau khi N và Ê thống nhất, N sửa chữa, căng bạt cao
5
su để che nắng, mưa; kéo dây điện, gắn quạt 03 cánh, đèn chiếu sáng; lót bạt (cao su), chiếu cối, bài Tây (loại bài 52 lá), miếng kim loại hình tròn (dùng để đè bài, tiền) phục vụ cho việc đánh bạc.
Trong khoảng thời gian từ 11 đến 17 giờ hàng ngày, N đến địa điểm phía sau nhà Ê để tổ chức cho các con bạc đánh bạc, ăn thua bằng tiền. Hình thức chơi, sử dụng bài Tây 52 lá, mỗi ván có tối đa 08 tụ, trong đó có 01 tụ cái và 07 tụ của những người đặt cược, người chơi sẽ được làm cái xoay vòng, mỗi vòng 07 ván bài, trường hợp ai không muốn làm cái thì cho qua vòng hoặc nếu làm cái thua thì có thể ngưng, không bắt buộc làm cái hết vòng, người làm cái sẽ chia cho mỗi tụ là 06 lá bài, người đặt cược tự phân chia 06 lá bài ra làm 02 vế (một vế 03 lá), đếm nút tự do (tương tự như bài cào 03 lá đếm nút), sau đó người đặt cược đối chiếu với người làm cái, nếu thắng cả 02 vế bài hoặc hòa 01 vế, thắng 01 vế thì người đặt cược thắng; nếu thắng 01 vế thua 01 vế thì hòa; thua cả 02 vế thì người đặt cược thua.
Người chơi làm cái được 01 đến 03 vòng thì N thu xâu số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng (tùy theo số người chơi và số tiền thắng, thua của người làm cái), mỗi lần tổ chức Ngoan thu xâu được từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng, N trả cho bà Ê từ 50.000 đồng - 100.000 đồng, còn lại N sử dụng.
Ngày 25/7/2025, khi N đang tổ chức cho các bị cáo Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3 và Cao Thị T2 chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền tại địa điểm trên thì bị phát hiện, bắt quả tang, tạm giữ của N số tiền trên người là 1.700.000 đồng. Quá trình điều tra Nguyễn Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời khai nhận đã tổ chức đánh bạc được 15 lần, mỗi lần thu lợi bất chính được từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng; những lần tổ chức đánh bạc, N có được số tiền thu xâu như trên thì N đều đưa cho Ê từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng.
2. Lương Thị Ê khai nhận:
Khoảng tháng 6/2025, Nguyễn Văn N đến gặp Ê hỏi mượn khu đất phía sau nhà của Ê để tổ chức cho các đối tượng chơi đánh bạc và trả tiền cho Ê từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng/ngày. Do biết sẽ có thêm thu nhập từ việc bán thức ăn và nước uống nên Ê đồng ý.
N đã dựng một căn liều bằng cao su trong khuôn viên đất phía sau nhà của Ê. N kéo dây điện từ nhà Ê vào căn liều và lắp thêm đèn chiếu sáng, quạt để phục vụ cho việc đánh bạc. Thời gian bắt đầu từ khoảng 11 giờ, kết thúc vào khoảng 17 giờ cùng ngày, mỗi ngày các đối tượng đến chơi đánh bạc thì N sẽ trả cho Ê từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, tùy theo thời gian chơi lâu hay nhanh, Ê đã nhận
6
tiền từ N được 15 ngày, mỗi ngày 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Ngày 25/7/2025, N tiếp tục tổ chức đánh bạc tại địa điểm nhà Lương Thị Ê thì bị bắt quả tang.
3. Bùi Thị L1 khai nhận:
Khoảng 12 giờ, ngày 25/7/2025, do biết tại khu vực phía sau nhà của bị can Lương Thị Ê có tổ chức chơi đánh bài ăn thua bằng tiền nên L1 đến địa điểm này để tham gia đánh bạc. Khi đi, L1 mang theo số tiền 2.400.000 đồng, mục đích sử dụng để đánh bạc.
Khi đến điểm đánh bạc, L1 thấy Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3 và Cao Thị T2 đang chơi đánh bạc. Hình thức chơi bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ), người chơi được làm cái xoay vòng, mỗi người được đặt cược tối đa 100.000 đồng; L1 đặt ké vào tụ bài của N2, mỗi ván đặt 100.000 đồng, chơi khoảng 08 đến 09 ván thì L1 bắt đầu làm cái, L1 chia bài cho 05 tụ gồm có L1, Bé N7, P, N8 và Trần Thị B3, số còn lại thì đặt ké và tham gia bắt tụ đá với nhau, mỗi người đặt 100.000 đồng, kết quả Lệ thua hết các tụ đặt nên L1 chung tiền cho cả 04 người, L2 ké Lệ 100.000 đồng (tức là Lệ thắng thì L1 đưa L2 100.000 đồng còn L1 thua thì L2 đưa L1 100.000 đồng), L1 tiếp tục làm cái thêm 02 ván nữa thì bị bắt quả tang.
4. Trần Thị P khai nhận:
Khoảng 13 giờ, ngày 25/7/2025, P đem theo số tiền 10.000.000 đồng đến chợ B5 - An Giang để mua đồ dùng sinh hoạt và thức ăn hết 2.500.000 đồng, còn lại 7.500.000 đồng P mang theo trong người đến địa điểm đánh bạc tại khu vực phía sau nhà của Lương Thị Ê để tham gia đánh bạc.
Khi đến địa điểm đánh bạc, P thấy Bùi Thị L1, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3 và Cao Thị T2 đang chơi đánh bạc dưới hình thức bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ) được ăn thua bằng tiền, người chơi được làm cái xoay vòng, mỗi tụ được đặt cược tối đa 100.000 đồng, P tham gia làm cái, làm cái được 03 ván, có ván ăn, ván thua, kết quả là hòa tiền, đến lượt L1 làm cái, P đặt tụ 100.000 đồng. Khi nhà cái (L1) vừa chia bài xong, P cùng các bị can tham gia đặt tụ và chuẩn bị xem bài thì bị bắt quả tang.
5. Nguyễn Thị Ly khai nhận:
Khoảng 12 giờ, ngày 25/07/2025, L2 đến địa điểm đánh bạc tại khu vực phía sau nhà của Lương Thị Ê để tham gia đánh bạc, khi đi L2 mang theo số tiền 1.400.000 đồng, mục đích sử dụng để đánh bạc.
Khi đến địa điểm đánh bạc, L2 thấy Bùi Thị L1, Trần Thị P, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3 và Cao Thị T2 đang chơi đánh bạc dưới hình thức bài binh 06 lá (bài binh
7
Ấn Độ) được ăn thua bằng tiền, người chơi được làm cái xoay vòng, mỗi tụ được đặt cược tối đa 100.000 đồng, L2 đứng xem một lúc đến khi L1 làm nhà cái thì L2 lấy ra số tiền 1.400.000 đồng để tham gia đánh bạc, L2 đặt ké vào tụ của L1 02 ván bài, mỗi ván 100.000 đồng, kết quả thua hết cả hai ván thì bị bắt quả tang.
6. Phan Thị Kim N9 khai nhận:
Khoảng hơn 11 giờ, ngày 25/7/2025, N9 cùng với Nguyễn Bá N4 đến địa điểm đánh bạc tại khu vực phía sau nhà của Lương Thị Ê để tham gia đánh bạc, khi đi N9 mang theo số tiền 2.000.000 đồng, mục đích sử dụng để đánh bạc.
Khi đến địa điểm đánh bạc, N9 thấy Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3 và Cao Thị T2 đang chơi đánh bài ăn thua bằng tiền. Hình thức chơi bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ), người chơi sẽ làm cái xoay vòng, tính luôn tụ cái là có 06 tụ tham gia, N9 và N4 mỗi người tham gia đặt cược một tụ, mỗi ván đặt 100.000 đồng, N9 chơi được 12 ván, thua 400.000 đồng. Sau đó, N9 làm cái 02 ván, mỗi lần cho đặt cược 100.000 đồng, N9 thắng lại 400.000 đồng, đến lượt L1 làm cái thì bị bắt quả tang.
7. Nguyễn Bá N4 khai nhận:
Khoảng hơn 11 giờ, ngày 25/7/2025, N4 cùng với Phạm Thị Kim N2 đến địa điểm đánh bạc tại khu vực phía sau nhà của bị can Lương Thị Ê để tham gia đánh bạc, khi đi N4 có mang theo số tiền 400.000 đồng, mục đích sử dụng để tiêu xài và đánh bạc, N4 tiêu xài hết 200.000 đồng, còn lại 200.000 đồng.
Khi đến địa điểm đánh bạc, N4 và N2 tham gia đánh bạc cùng với Bùi Thị L1, Trần Thị P, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị M và một số người khác. Hình thức chơi bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ), người chơi được làm cái xoay vòng, P là người làm cái; N2 đưa cho N4 500.000 đồng để làm vốn đặt cược, N4 và N2 mỗi người đặt cược 01 tụ, mỗi tụ được đặt cược tối đa 100.000 đồng, N4 tham gia đặt được 03 ván (có ván thắng, ván thua), mỗi ván đặt 100.000 đồng, kết quả N4 bị thua 100.000 đồng, sau đó bị bắt quả tang.
8. Nguyễn Thị M khai nhận:
Khoảng 12 giờ, ngày 25/7/2025, M mang theo số tiền 3.020.000 đồng đến địa điểm đánh bạc do Nguyễn Văn N tổ chức, mục đích sử dụng để đánh bạc, M trả tiền xe ôm hết 10.000 đồng, còn lại 3.010.00 đồng.
Khi đến địa điểm đánh bạc, M thấy Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3 và Cao Thị T2 đang chơi đánh bạc dưới hình thức bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ) ăn thua bằng tiền, người chơi được làm cái xoay vòng, mỗi tụ được đặt cược tối đa
8
100.000 đồng, M lấy 2.000.000 đồng ra để tham gia đặt cược, M đặt hùn vào tụ của N8, mỗi ván đặt 100.000 đồng, số tiền còn lại, M cầm trên tay để chung chi khi thắng thua; L1 làm cái, có khoảng 04 đến 05 tụ đặt, mỗi tụ đặt 100.000 đồng, M tham gia chơi được 03 ván, kết quả đều bị thua, đến ván bài kế tiếp chuẩn bị chơi thì bị bắt quả tang.
9. Lương Thị Bé N7 khai nhận:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 25/7/2025, Bé N7 mang theo số tiền 400.000 đồng đến địa điểm đánh bạc tại khu vực phía sau nhà của Lương Thị Ê để tham gia đánh bạc. Cùng lúc, Bé Năm tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ) ăn thua bằng tiền cùng với Trần Thị P, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị Thu N8 và một số người khác, người chơi được làm cái xoay vòng, mỗi tụ được đặt cược tối đa 100.000 đồng. Bé Năm tham gia đặt cược 01 tụ, mỗi ván đặt cược 100.000 đồng, chơi được 03 ván, thắng 01 ván, thua 02 ván. Sau đó, Bé N7 nhường tụ cho Trần Thị B3 đặt cược, Bé N7 mượn tụ của Ba đá với L1 07 ván, mỗi ván 100.000 đồng, Bé Năm thắng được 700.000 đồng; đến lượt L1 làm cái, Bé Năm đặt 03 ván, mỗi ván đặt 100.000 đồng, thắng 02 ván, thua 01 ván thì bị bắt quả tang.
10. Nguyễn Thị Thu N8 khai nhận:
Khoảng hơn 12 giờ, ngày 25/7/2025, N8 mang theo số tiền 1.700.000 đồng đến địa điểm đánh bạc tại khu vực phía sau nhà của Lương Thị Ê để tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền. Tại đây, N8 thấy Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Trần Thị B3 và Cao Thị T2 đang đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ) ăn thua bằng tiền, người chơi được làm cái xoay vòng, mỗi tụ được đặt cược tối đa 100.000 đồng. N8 và M hùn đặt chung 01 tụ, mỗi người hùn 50.000 đồng, chơi được 03 ván đều bị thua. Sau đó, bị bắt quả tang.
11. Trần Thị B3 khai nhận:
Khoảng 12 giờ, ngày 25/07/2025, Trần Thị B3 mang theo số tiền 1.000.000 đồng đến địa điểm đánh bạc tại khu vực phía sau nhà của Lương Thị Ê để tham gia đánh bạc. Tại đây, Ba thấy Bùi Thị L1, Trần Thị P, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Nguyễn Thị L2 và Cao Thị T2 đang đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ) ăn thua bằng tiền, người chơi được làm cái xoay vòng, mỗi tụ được đặt cược tối đa 100.000 đồng, thấy N là người thu tiền xâu của các nhà cái xoay vòng, nếu ai không muốn làm cái thì có thể qua vòng, trong sòng bài có 01 tụ cái và 07 tụ con tham gia đặt tiền. Thấy vậy, Ba bắt đầu vào tham gia chơi đánh bạc, lấy số tiền 1.000.000 đồng để chơi, Ba đặt ké vào tụ của Lương Thị Bé N7 được khoảng 06 đến 07 ván, mỗi ván 50.000 đồng, có ván thắng, ván
9
thua. Sau đó, Ba tự đặt riêng 01 tụ, mỗi ván đặt 100.000 đồng, đặt được 06 đến 07 ván thì bị thua hết tiền thì bị bắt quả tang.
12. Cao Thị T2 khai nhận:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 25/7/2025, T2 mang theo 200.000 đồng đến địa điểm đánh bạc tại khu vực phía sau nhà của Lương Thị Ê để tham gia đánh bạc. Tại đây, T2 thấy Bùi Thị L1, Trần Thị P, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Trần Thị B3, Nguyễn Thị Thu N8 và Nguyễn Thị L2 đang đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh 06 lá (bài binh Ấn Độ) ăn thua bằng tiền, người chơi được làm cái xoay vòng, mỗi tụ được đặt cược tối đa 100.000 đồng, thấy N là người thu tiền xâu của các nhà cái xoay vòng, nếu ai không muốn làm cái thì có thể qua vòng, trong sòng bài có 01 tụ cái và 07 tụ con tham gia đặt tiền. Thấy vậy, T2 bắt đầu tham gia chơi đánh bạc, T2 lấy số tiền 200.000 đồng để chơi đánh bạc, T2 đặt ké tụ 04 ván, mỗi ván 50.000 đồng, thua 04 ván hết 200.000 đồng.
* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Nguyễn Văn N, Lương Thị Ê không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.
Các bị cáo Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3, Cao Thị T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A thu giữ: 38.470.000 đồng là tiền thu trên chiếu bạc; 05 bộ bài Tây 52 lá (trong đó: 03 bộ còn nguyên vẹn, 02 bộ đã qua sử dụng); 08 miếng kim loại hình tròn (dùng để đè tiền trên chiếu bạc); 02 tấm bạt nhựa sọc màu xanh - trắng dùng để che nắng, mưa; 01 tấm bạt nhựa màu đen dùng để che nắng, mưa; 01 tấm chiếu cối; 01 quạt máy (loại quạt treo trần nhà, 03 cánh); 01 bóng đèn; 01 đoạn dây điện màu đỏ.
Ngoài ra, còn thu giữ trên người của các đối tượng tham gia đánh bạc và những người có liên quan:
- - Nguyễn Văn N: Số tiền 1.700.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung;
- - Bùi Thị L1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo;
- - Trần Thị P: Số tiền 7.400.000 đồng (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng);
- - Nguyễn Thị L2: 01 điện thoại di động iphone 11;
- - Phạm Thị Kim N2: Số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện
10
thoại di động iphone 15 Promax; Nguyễn Bá N4: Số tiền 600.000 đồng; Nguyễn Thị M: Số tiền 1.010.000 đồng; Lương Thị Bé N7: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; Nguyễn Thị Thu N8: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Lê Hoài D2: Số tiền 680.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; Ngô Thị Ngọc T3: 01 điện thoại di động iphone 8; Nguyễn Thị T4: Số tiền 3.000.000 đồng.
Đã trả lại cho Nguyễn Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Bùi Thị L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo; Phạm Thị Thị N2 01 điện thoại di động iphone 15 Promax; Nguyễn Thị L2 01 điện thoại di động iphone 11; Lương Thị Bé Năm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; Nguyễn Thị Thu N8 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Lê Hoài D2 số tiền 680.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; Ngô Thị Ngọc T3 01 điện thoại di động iphone 8; Nguyễn Thị T4 số tiền 3.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKSKV4 ngày 13/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Truy tố bị cáo Lương Thị Ê về tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3, Cao Thị T2 bị truy tố về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân nhân khu vực 4 - An Giang; trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức hình phạt cho từng bị cáo như sau:
- - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm điểm a, c khoản 1 Điều 322 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình Sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
- - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322 điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự
- Xử phạt: Bị cáo Lương Thị Ê mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Gá bạc”.
11
- - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự. Áp dụng chung cho các bị cáo: Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3, Cao Thị T2 về tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị L1 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị P số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L2 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Kim N2 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá N4 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Lương Thị B4 Năm số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu N8 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị B3 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Cao Thị T2 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về biện pháp tư pháp:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn N nộp số tiền thu lợi bất chính là 7.500.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền đã tạm giữ 1.400.000 đồng của N đã nộp tại Kho bạc nhà nước khu vực XX và bị cáo đã nộp số tiền 6.100.000 đồng theo biên lai thu số 0002147 ngày 08/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- - Buộc bị can Lương Thị Ê nộp số tiền thu lợi bất chính là 1.500.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
12
Về tang vật: Tịch thu sung công quỹ nhà nước Số tiền tang vật trên chiếu bạc 38.470.000 đồng; số tiền kiểm tra trên người của các đối tượng dùng vào việc đánh bạc 11.010.000 đồng, đã nộp tại Kho bạc nhà nước khu vực XX.
Tuyên tịch thu tiêu hủy các tang vật, vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 05 bộ bài Tây 52 lá (trong đó: 03 bộ còn nguyên vẹn, 02 bộ đã qua sử dụng); 08 miếng kim loại hình tròn (dùng để đè tiền trên chiếu bạc); 02 tấm bạt nhựa sọc màu xanh - trắng dùng để che nắng, mưa; 01 tấm bạt nhựa màu đen dùng để che nắng, mưa; 01 tấm chiếu cối; 01 quạt máy (loại quạt treo trần nhà, 03 cánh); 01 bóng đèn; 01 đoạn dây điện màu đỏ.
Đã trả lại cho Nguyễn Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Bùi Thị L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo; Phạm Thị Thị N2 01 điện thoại di động iphone 15 Promax; Nguyễn Thị L2 01 điện thoại di động iphone 11; Lương Thị Bé Năm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; Nguyễn Thị Thu N8 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Lê Hoài D2 số tiền 680.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; Ngô Thị Ngọc T3 01 điện thoại di động iphone 8; Nguyễn Thị T4 số tiền 3.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo cho rằng, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định và không am hiểu pháp luật, nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N đã thừa nhận; bị cáo đã chủ động thuê phần đất trống sau nhà của bị cáo Lương Thị
13
Ê và sửa chữa lại căn chòi, mắc điện thắp sáng xung quanh, chuẩn bị bài và cho nhiều đối tượng tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi bài binh 6 lá ăn tiền. Mức độ cá cược của các con bạc tham gia đánh bạc từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Thời gian tổ chức của bị cáo đến ngày bị bắt quả tang khoảng 15 ngày và mỗi ngày bị cáo thu tiền xâu từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Tại ngày bị bắt quả tang bị cáo đã tổ chức cho hơn 10 con bạc tham gia đánh bạc và Cơ quan Công an đã thu giữ tại chiếu bạc số tiền là 38.470.000 đồng, thu giữ trên người các con bạc là 12.710.000 đồng và cùng nhiều tang vật khác.
Trong số tiền thu giữ trên người các con bạc, qua kết quả điều tra và trên cơ sở lời khai tại phiên tòa hôm nay. Xét thấy, trong tổng số tiền trên, có thu trên người của bị cáo N số tiền là 1.700.000 đồng. Đối với số tiền này, bị cáo N đã đem theo không nhằm mục đích để tổ chức đánh bạc hoặc đánh bạc. Tại phiên Tòa vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử trừ lại số tiền này, không tính chung vào tổng số tiền mà các con bạc dùng để tham gia đánh bạc, để định lượng khung hình phạt đối với các bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Do đó, số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc được thu giữ tại chiếu bạc là 38.470.000 đồng và trên người các con bạc là 11.010.000 đồng. Tổng số tiền được tính là 49.480.000 đồng.
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo N tại phiên tòa đã phù hợp lời khai của người người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đầy đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm vào tội tổ chức đánh bạc, được quy định tại điểm a, c, khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Lương Thị Ê tại phiên tòa đã thừa nhận, bị cáo đã đồng ý cho bị cáo N thuê phần đất trống thuộc quyền sử dụng của gia đình bị cáo để tổ chức đánh bạc và mỗi ngày bị cáo N phải trả cho bị cáo số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Thời gian đã tổ chức đánh bạc được khoảng 15 ngày thì bị Công an bắt quả tang. Tính từ ngày bị cáo cho N thuê phần đất trống đến ngày bị bắt quả tang, thì bị cáo đã thu được số tiền là 1.500.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Thị Ê đã cấu thành tội “Gá bạc”, được quy định tại khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự.
Đối với các bị cáo tại phiên tòa hôm đã thừa nhận, các bị cáo có tham gia đánh bạc tại chiếu bạc do bị cáo N tổ chức. Tại ngày bị bắt quả tang, lực lượng chức năng đã thu giữ tại chiếu bạc và số tiền trên người các con bạc đem theo
14
nhằm mục đích đánh bạc với tổng số tiền là 49.480.000 đ. Do đó, hành vi này của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của tất cả các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã tụ tập với nhau đánh bạc với hình thức đánh bài binh 06 lá để ăn thua bằng tiền. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm đối với tất cả các bị cáo, nhằm răn đe giáo dục các bị cáo sớm trở thành người biết sống lương thiện, biết lao động chân chính để giúp ích cho gia đình và xã hội. Qua đó, cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đối với bị cáo Nguyễn Văn N là người trực tiếp đứng ra tổ chức cho các con bạc tham gia đánh bạc ăn tiền. Bị cáo đã chủ động thuê phần đất trống của bị cáo Ê để mắc điện, mắc quạt và cung cấp nước uống, dụng cụ đánh bạc . . . để cho các con bạc sát phạt lẫn nhau, nhằm mục đích thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo không những làm mất tình hình an ninh trật tự ở địa phương mà còn tạo tiền đề xấu cho một số tội phạm khác sãy ra, như trộm cắp, gây gối .... Do đó, trên cơ sở đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nghĩ cần thiết xử phạt bị cáo mức án cao, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả mà bị cáo gây ra, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Đối với bị cáo Lương Thị Ê là người có đầy đủ sức khỏe và nhận thức, việc cho thuê phần đất của gia đình bị cáo để tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, với ý thức xem thường pháp luật và muốn có tiền tiêu xài không phải bằng công sức lao động chân chính của mình, từ đó đã cho bị cáo N thuê phần đất của gia đình bị cáo để tổ chức cho các con bạc tham gia đánh bạc nhằm thu lợi bất chính. Lẽ ra, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung của xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải và số tiền thu lợi bất chính của bị cáo không nhiều. Mặt khác, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nếu như xử phạt tù đối với bị cáo sẽ gây khó khăn hơn cho gia đình bị cáo. Do đó, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo, cũng đủ thể hiện tính nghiêm minh và phòng ngừa tội phạm.
Đối với các bị cáo còn lại gồm; Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3, Cao Thị T2 là những con bạc tham gia đánh bạc được
15
ăn thua bằng tiền. Tuy rằng mức độ cá cược ăn thua của các bị cáo không lớn, nhưng xét thấy việc các bị cáo tụ tập với nhau để sát phạt là một tệ nạn xã hội, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cũng cần phải áp dụng mức hình phạt chung cho các bị cáo, tương xứng với tính chất mức độ, hậu quả mà hành vi của từng bị cáo gây ra. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật và cũng đủ thể hiện tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tất cả các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Cáo bị cáo Nguyễn Văn N đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Các bị cáo Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3, Cao Thị T2 đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Do đó bị cáo Nguyễn Văn N, Lương Thị Ê được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3, Cao Thị T2 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định của pháp luật, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo đều không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Buộc bị cáo Nguyễn Văn N nộp số tiền thu lợi bất chính là 7.500.000 đồng.
Được đối trừ vào số tiền đã tạm giữ 1.400.000 đồng của N đã nộp tại Kho bạc nhà nước khu vực XX và bị cáo đã nộp số tiền 6.100.000 đồng theo biên lai thu số 0002147 ngày 08/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước gồm:
Số tiền tang vật trên chiếu bạc 38.470.000 đồng; số tiền kiểm tra trên người của các đối tượng dùng vào việc đánh bạc 11.010.000 đồng, đã nộp tại Kho bạc Nhà nước khu vực XX.
16
Tuyên tịch thu tiêu hủy các tang vật, vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 05 bộ bài Tây 52 lá (trong đó: 03 bộ còn nguyên vẹn, 02 bộ đã qua sử dụng); 08 miếng kim loại hình tròn (dùng để đè tiền trên chiếu bạc); 02 tấm bạt nhựa sọc màu xanh - trắng dùng để che nắng, mưa; 01 tấm bạt nhựa màu đen dùng để che nắng, mưa; 01 tấm chiếu cối; 01 quạt máy (loại quạt treo trần nhà, 03 cánh); 01 bóng đèn; 01 đoạn dây điện màu đỏ.
Đối với số tiền 1.400.000 đồng được thu giữ trên người bị cáo N. Số tiền này không dùng vào việc đánh bạc, Nhưng bị cáo đã đồng ý lấy số tiền này nộp lại số tiền thu lợi bất chính đã được nhận định tại phần trên. Như vậy đã được xử lý xong.
Đối với các tang vật, vật chứng mà Cơ quan Công an đã trả lại cho Nguyễn Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Bùi Thị L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo; Phạm Thị Thị N2 01 điện thoại di động iphone 15 Promax; Nguyễn Thị L2 01 điện thoại di động iphone 11; Lương Thị Bé Năm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; Nguyễn Thị Thu N8 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Lê Hoài D2 số tiền 680.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; Ngô Thị Ngọc T3 01 điện thoại di động iphone 8; Nguyễn Thị T4 số tiền 3.000.000 đồng. Xét thấy, các tang vật, vật chứng trên không liên quan đến việc đánh bạc, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[5] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/S2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “ Tổ chức đánh bạc”.
- - Bị cáo Lương Thị Ê phạm tội “ Gá bạc”.
- - Các bị cáo, Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3, Cao Thị T2 phạm tội “ Đánh bạc”.
Về trách nhiện hình sự:
17
- - Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 cho bị cáo Nguyễn Văn N.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam 26 tháng 7 năm 2025.
- - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 cho bị cáo Lương Thị Ê.
- Xử phạt: Bị cáo Lương Thị Ê số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 cho các bị cáo: Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3, Cao Thị T2.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị P số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị L1 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L2 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim N2 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá N4 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt: Bị cáo Lương Thị B4 Năm số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu N8 số tiền từ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị B3 số tiền từ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
18
- Xử phạt: Bị cáo Cao Thị T2 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
2. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N nộp số tiền thu lợi bất chính là 7.500.000 đồng.
Được đối trừ vào số tiền đã tạm giữ 1.400.000 đồng của N đã nộp tại Kho bạc nhà nước khu vực XX và bị cáo đã nộp số tiền 6.100.000 đồng theo biên lai thu số 0002147 ngày 08/12/2025 tại thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Buộc bị cáo Lương Thị Ê nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
3. Về hình phạt bổ sung:
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
4. Về tang vật và vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước các tang vật gồm: Số tiền tang vật trên chiếu bạc 38.470.000 đồng; số tiền kiểm tra trên người của các đối tượng dùng vào việc đánh bạc 11.010.000 đồng, đã nộp tại Kho bạc nhà nước khu vực XX.
Tuyên tịch thu tiêu hủy các tang vật, vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: Tuyên tịch thu tiêu hủy các tang vật, vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 05 bộ bài Tây 52 lá (trong đó: 03 bộ còn nguyên vẹn, 02 bộ đã qua sử dụng); 08 miếng kim loại hình tròn (dùng để đè tiền trên chiếu bạc); 02 tấm bạt nhựa sọc màu xanh - trắng dùng để che nắng, mưa; 01 tấm bạt nhựa màu đen dùng để che nắng, mưa; 01 tấm chiếu cối; 01 quạt máy (loại quạt treo trần nhà, 03 cánh); 01 bóng đèn; 01 đoạn dây điện màu đỏ.
5. Về án phí Hình sự Sơ thẩm:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Lương Thị Ê, Bùi Thị L1, Trần Thị P, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị Kim N2, Nguyễn Bá N4, Nguyễn Thị M, Lương Thị Bé N7, Nguyễn Thị Thu N8, Trần Thị B3, Cao Thị T2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng.
Án xử công khai, có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
19
- Lưu hồ sơ. | Trương Thanh Toàn |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức đánh bạc, gá bạc, đánh bạc)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc, Gá bạc, Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn K cùng đồng bọn
