|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 9 – THANH HOÁ |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 27 – 10 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Len và ông Nguyễn Xuân Bản
Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Mai Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 09 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo: Hoàng Văn N, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1967, tại xã X, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn F, xã X, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...], cấp ngày 12/7/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N1 (đã chết) và con bà Trần Thị R (đã chết); vợ là Trịnh Thị H và 03 con lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1997.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh kể từ ngày 15/07/2025. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Ông Nguyễn Do T, sinh năm 1962 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964
Nơi cư trú: Thôn F, xã X, tỉnh Thanh Hóa (Là vợ của bị hại). Vắng mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Đinh Văn T1, bà Trịnh Thị S1 và anh Đinh Văn Q. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/02/2025, Hoàng Văn N là thợ xây đứng ra thành lập một tổ thợ người địa phương để nhận khoán xây dựng nhà ở cho gia đình bà Trịnh Thị S1 ở cùng xã. Sau khi nhận khoán N cho tổ thợ của mình đến thi công công trình nhà bà S1, quá trình thi công N là người chịu trách nhiệm toàn bộ về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật công trình, hằng ngày Nam quản lý, giám sát thợ, chấm công và ứng tiền công thợ hằng tháng từ gia đình bà sáng và cân đối chi trả tiền nhân công thợ theo thoả thuận.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/5/2025, N đang ở nhà thì tại công trình nhà bà S1 có 02 thợ xây trong tổ thợ là ông Nguyễn Do T và anh Đinh Văn Q đang làm việc trên giàn giáo tầng 2 thi công trát phần văng mái nhà có độ cao so với mặt đất từ 4,6m đến 4,85m. Trong quá trình làm việc ông T bị ngã từ trên giàn giáo xuống đất và bị chết trên đường đi cấp cứu, anh Q do bị rung giàn giáo nên cũng bị ngã từ giàn giáo xuống đất nhưng chỉ bị xây xát nhẹ.
Tại bản Kết luận giám định số 1861/KLGĐTT – PC09 ngày 02/6/2025, Phòng K Công an tỉnh T, kết luận nguyên nhân chết của ông Nguyễn Do T do chấn thương sọ não.
Tại bản kết luận giám định số 4239/KL – KTHS ngày 02/6/2025 của V Bộ C kết luận: “Trong mẫu máu thu giữ của ông Nguyễn Do T gửi giám định có tìm thấy ethanol (Cồn) nồng độ là 33 mg/ml máu.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 323/KLTTCT – PYTH ngày 01/7/2025 của Trung tâm P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đinh Văn Q tại thời điểm giám định là 02%”.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra Hoàng Văn N đã giao nộp 01 cuốn sổ chấm công thợ xây hằng ngày hiện cuốn sổ này đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Về bồi thường thiệt hại: Hoàng Văn N và đại diện gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Do T số tiền 80.000.000₫ (Tám mươi triệu đồng) đại diện gia đình bị hại đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSNDKV9 ngày 06/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Thanh Hoá truy tố Hoàng Văn N về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Hoàng Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 15(mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) đến 36 (ba sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền là 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng), đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với tổn thương cơ thể của anh Đinh Văn Q, anh Q không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo 01 cuốn số chấm công.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là có căn cứ và hợp pháp.
Đối với việc vắng mặt người đại diện hợp pháp bị hại, người làm chứng tại phiên toà tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ trong quá trình điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên HĐXX căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Hoàng Văn N dù bản thân biết không có chứng chỉ hành nghề xây dựng nhưng vẫn đứng ra lập tổ thợ, nhận thi công các công trình nhà dân trên địa bàn xã X, tỉnh Thanh Hóa. Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 15/5/2025, trong quá trình xây dựng công trình nhà ở cho bà Trịnh Thị S1 ở cùng xã, N là người sử dụng lao động đã không thực hiện các quy định về an toàn lao động như không huấn luyện về an toàn lao động, không trang bị các phương tiện, công cụ đảm bảo an toàn lao động, không có mặt để giám sát an toàn lao động khi thực hiện công việc, khi cho thợ làm việc ở trên cao N đã không lắp đặt lưới an toàn, lan can an toàn, tấm đỡ an toàn cho giàn giáo là nguyên nhân chính dẫn đến sự việc ông Nguyễn Do T và anh Đinh Văn Q trong quá trình làm việc bị ngã từ tầng 2 giàn giáo có độ cáo từ 4,6m đến 4,85m xuống nền đất khiến ông T bị thương và chết trên đường đi cấp cứu do chấn thương sọ não, anh Q bị tổn thương cơ thể 02%.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn lỗi chính thuộc về bị cáo N, bên cạnh đó bị hại cũng có một phần lỗi khi làm việc có sử dụng rượu và có nồng độ cồn trong máu. Hành vi của bị cáo N vi phạm khoản 2 Điều 7, khoản 3 Điều 16 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015; khoản 10 Điều 12, khoản 1 Điều 115 Luật xây dựng năm 2014 gây tai nạn lao động làm chết 01 người.
Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về an toàn lao động" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Thanh Hoá là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tính chất vụ án: Bị cáo sử dụng lao động nhưng không thực hiện các điều kiện đảm bảo an toàn cho người lao động dẫn đến tai nạn lao động chết người là nghiêm trọng, hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Hành vi này cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định của BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện của bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000₫ (Tám mươi triệu đồng), đại diện của bị hại đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Nên HĐXX không xem xét.
Đối với anh Q là người bị tổn hại sức khoẻ 02% tuy nhiên anh Q không phải điều trị và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.
Đối với vợ chồng bà S1 là người thuê bị cáo xây dựng nhà ở cho mình, tuy nhiên việc đảm bảo các điều kiện an toàn lao động thuộc về bị cáo là người sử dụng lao động nên vợ chồng bà S1 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: HĐXX xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[7] Hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, nghề thợ xây là thu nhập chính cho gia đình được xác nhận của UBND xã X, tỉnh Thanh Hoá nơi bị cáo sinh sống, nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 cuốn sổ ghi chép chấm công thợ hằng ngày là phù hợp với quy định của Pháp luật.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N, phạm tội "Vi phạm quy định về an toàn lao động".
- Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn N 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Văn N cho Ủy ban nhân dân xã X, tỉnh Thanh Hoá quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 cuốn sổ ghi chấm công thợ hằng ngày theo như biên bản bàn giao vật chứng số 08/2026/KV9 ngày 27/10/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Thanh Hoá.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo được quyền quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của Pháp luật.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Thanh Hóa;
- - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- - VKSND Khu vực 9 – Thanh Hoá;
- - CQCSĐT CA tỉnh T;
- - THADS tỉnh T;
- - UBND, Công an xã X;
- - Bị cáo;
- - Người đại diện của bị hại;
- - Lưu HSVA.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Văn Len Nguyễn Xuân Bản |
Phạm Viết Chiến |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 27/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THANH HOÁ về hình sự (vi phạm quy định về an toàn lao động)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về an toàn lao động)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Nam dù bản thân biết không có chứng chỉ hành nghề xây dựng nhưng vẫn đứng ra lập tổ thợ, nhận thi công các công trình nhà dân trên địa bàn xã Xuân Du, tỉnh Thanh Hoá. Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 15/5/2025, trong quá trình xây dựng công trình nhà ở cho bà Trịnh Thị Sáng ở cùng xã, Nam là người sử dụng lao động đã không thực hiện các quy định về an toàn lao động như không huấn luyện về an toàn lao động, không trang bị các phương tiện, công cụ đảm bảo an toàn lao động, không có mặt để giám sát an toàn lao động khi thực hiện công việc, khi cho thợ làm việc ở trên cao Nam đã không lắp đặt lưới an toàn, lan can an toàn, tấm đỡ an toàn cho giàn giáo là nguyên nhân chính dẫn đến sự việc ông Nguyễn Do Toàn và anh Đinh Văn Quyền trong quá trình làm việc bị ngã từ tầng 2 giàn giáo có độ cáo từ 4,6m đến 4,85m xuống nền đất khiến ông Toàn bị thương và chết trên đường đi cấp cứu do chấn thương sọ não, anh Quyền bị tổn thương cơ thể 02%. Nguyên nhân xảy ra tai nạn lỗi chính thuộc về bị cáo Nam, bên cạnh đó bị hại cũng có một phần lỗi khi làm việc có sử dụng rượu và có nồng độ cồn trong máu. Hành vi của bị cáo Nam vi phạm khoản 2 Điều 7, khoản 3 Điều 16 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015; khoản 10 Điều 12, khoản 1 Điều 115 Luật xây dựng năm 2014 gây tai nạn lao động làm chết 01 người.
